Phương pháp dạy các chủ đề Sinh học lớp 8 hiệu quả.

cần thuê gia sư dạy toán tại thanh hóa

Sinh học lớp 8 là một phần kiến thức rất quan trọng trong chương trình dạy học bộ môn. Các gia sư dạy kèm ở Thanh Hóa rất chú ý đến việc phân loại hệ thống kiến thức của chương trình để việc dạy học được tốt hơn, học sinh học đạt chất lượng cao hơn.

Để trở thành một gia sư giỏi ở Thanh Hóa các bạn nên đọc kĩ những kinh nghiệm đã được đúc rút từ nhiều năm kinh nghiệm của các gia sư chất lượng tại Thanh Hóa sau:

  1. Phương pháp dạy các kiến thức hình thái, giải phẫu:

1.1.Vai trò của các phương tiện trực quan trong dạy học các kiến thức hình thái, giải phẩu.

Dạy các kiến thức hình thái, giải phẫu cần coi trọng nguyên tắc trực quan.

Vận dụng nguyên tắc này GV thường sử dụng các phương tiện trực quan như:

– Các vật thật bao gồm các mẫu tươi, mẫu ngâm, các tiêu bản hiển vi.

– Các vật tượng hình như mô hình, tranh vẽ, các hình chụp, hình vẽ trên bảng hoặc các sơ đồ cấu tạo, phim đèn chiếu …

Trong các loại phương tiện trên thì mẫu tươi có nhiều ưu điểm hơn cả. Nó cho phép học sinh hiểu rõ hình dạng, màu sắc và kích thước thực của các đối tượng quan sát đôi khi còn cho các em thấy rõ qua cảm giác, xúc giác (sờ, nắn) về tính chất của đối tượng nghiên cứu (độ cứng, mềm, trơn, nhẵn hay gồ ghề…) nhằm gây hứng thú yêu thích môn học.

Chẳng hạn, qua nghiên cứu một mẫu tim lợn tươi, bằng sờ nắn các thành cơ của các ngăn tim, các em có thể nhận biết thành cơ của các tâm nhĩ mỏng hơn so với  thành cơ các tâm thất, thành của tâm thất trái dày hơn thành của tâm thất phải. Nếu không có được mẫu tươi, thì mẫu ngâm cũng vẫn là vật thật, có tác dụng tốt trong giờ dạy, đảm bảo học sinh có được biểu tượng khá chính xác về đối tượng nghiên cứu. Tất nhiên, mẫu ngâm khó giữ được màu sắc tự nhiên nhưng lại có ưu điểm là được xử lí tốt về mặt sư phạm, thể hiện được rõ những đặc điểm cấu tạo cần quan sát.

   Tuy nhiên, không phải mọi vật đều đáp ứng được những yêu cầu sư phạm của một số đồ dùng học tập. Có những vật thật quá nhỏ khó quan sát. Muốn cho học sinh có được một ý niệm về sự tinh vi, phức tạp của kích thước thực của chúng như cấu tạo của cơ quan tai trong, màng lưới và điểm mù của cầu mắt, cấu tạo của niêm mạc ruột với các tế bào lông ruột…thì phải kết hợp với việc sử dụng mô hình.

Cần tìm gia sư ở Thanh Hóa
Cần tìm gia sư ở Thanh Hóa

 Nhiều khi vật thật, mô hình không cho phép đi sâu vào cấu tạo chi tiết, cấu trúc hiển vi của các cơ quan, lúc này tranh vẽ sẽ bổ sung tốt cho những hạn chế trên. Đặc biệt là loại tranh “phân tích” và “tranh liên hoàn” cho phép đi sâu vào các mức độ cấu trúc khác nhau của các cơ quan đó, hoặc đi sâu vào cấu trúc chi tiết của các bộ phận quan trọng, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu chức năng được thuận lợi.

Song các vật thật, mô hình hoặc tranh vẽ, ảnh chụp phóng to thường là phức tạp khiến học sinh khó hình dung được những nét cơ bản trong cấu trúc, trong trường hợp đó sử dụng các sơ đồ câú trúc sẽ có tác dụng khắc sâu những đặc điểm cấu trúc của đối tượng nghiên cứu, đồng thời làm phát triển tư duy trừu tượng, tư duy khái quát của học sinh.

Ngoài ra hình vẽ trên bảng của giáo viên cũng là một phương tiện trực quan có giá trị sư phạm cao, được sử dụng kết hợp với giảng giải, giúp học sinh theo dõi một cách dễ dàng.

Đặc biệt, cơ thể người cũng là một phương tiện trực quan sống cần được khai thác trong quá trình dạy các kiến thức hình thái, giải phẫu. Chẳng hạn, mắt với màng giác, mống mắt, con ngươi; lưỡi với các gai vị giác, da với các sản phẩm của da (lông, móng); tai ngoài… các chi, xương đai, các loại khớp, các bắp cơ… có thể quan sát trực tiếp trên cơ thể mình hoặc bạn.

1.2. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học:

– Phương tiện trực quan sẽ đóng vai trò chủ yếu và tích cực trong quá trình nhận thức khi chúng được sử dụng như một “nguồn” để dẫn tới kiến thức. Ở đây học sinh độc lập quan sát dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới những kết luận cũng là những kiến thức cần lĩnh hội. Quan sát lúc này mang tính chất tìm tòi, nghiên cứu. Nó có tác dụng phát huy tính chủ động, độc lập, phát triển óc quan sát, phát triển tư duy cho học sinh.

– Hình vẽ trong SGK cũng được sử dụng làm phương tiện cung cấp thông tin về cấu tạo của một cơ quan hay hệ cơ quan mà học sinh phải tự tìm hiểu, tự nghiên cứu và hoàn thành các bài tập có tính chất củng cố để nắm chắc kiến thức.

Trung tâm gia sư Thanh Hóa
Trung tâm gia sư Thanh Hóa
  1. Phương pháp dạy các kiến thức sinh lí, sinh thái:

2.1. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học kiến thức sinh lí, sinh thái.

Trong việc dạy học các kiến thức sinh lí, sinh thái, thí nghiệm đóng một vai trò rất quan trọng. Thí nghiệm cho phép đi sâu nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình sinh lí trong những điều kiện nhân tạo được khống chế, thí nghiệm được tiến hành trên các đối tượng (ếch, cóc, chuột  thỏ …) hoặc ngay trên chính cơ thể học sinh để tìm hiểu nguyên nhân, tìm ra cơ chế, rút ra các quy luật hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan trong mối quan hệ của các cấu trúc của chúng.

2.2. Sử dụng các thí nghiệm trong dạy học kiến thức sinh lí, sinh thái.

          Sử dụng các thí nghiệm như thế nào để đạt được hiệu quả cao về mặt nhận thức là một vấn đề đáng được lưu ý về mặt phương pháp.

– Thí nghiệm có thể được sử dụng làm điểm xuất phát cho quá trình nhận thức là nguồn cung cấp thông tin trong nhóm phương pháp trực quan của GV biểu diễn (thí nghiệm biểu diễn) hoặc trong nhóm phương pháp thực hành do học sinh trực tiếp tiến hành (thí nghiệm học tập của HS). Ở đây dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải độc lập quan sát các bước trong thí nghiệm (do GV biểu diễn hoặc do HS tự tay tiến hành), tích cực tư duy, chủ động, giành lấy kiến thức. Do đó, thí nghiệm có tác dụng tích cực trong hoạt động nhận thức, giúp phát triển tư duy khoa học tới mức tối đa, đồng thời phát triển năng lực quan sát, rèn luyện một số kỹ năng thực hành. Thí nghiệm trong trường hợp này mang tính chất tìm tòi, nghiên cứu được gọi là thí nghiệm biểu diễn có tính chất nghiên cứu (do GV tiến hành) hoặc thí nghiệm thực hành (do HS tiến hành). Trong thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp tìm tòi nghiên cứu, HS phải tập trung chú ý quan sát, tích cực tư duy (so sánh, đối chiếu các kết quả trong quá trình thí nghiệm) để tự mình rút ra những nhận xét, đi tới các kết luận cần thiết dưới sự hướng dẫn của GV.

– Trong dạy các kiến thức sinh lí, thí nghiệm còn được sử dụng như một biện pháp để xác định nhiệm vụ nhận thức, vì nhu cầu và hứng thú chỉ nảy sinh khi các em hiểu được ý nghĩa, ý thức được rõ ràng vấn đề cần tìm hiểu, nghiên cứu học tập, từ đó các em sẽ tập trung chú ý vào vấn đề học tập, nghiên cứu.

Chẳng hạn, khi chuẩn bị cho việc nghiên cứu chức năng của rễ tuỷ (rễ trước và rễ sau), GV có thể xác định nhiệm vụ nhận thức bằng tiến hành biểu diễn thí nghiệm.

          Tìm và cắt đôi dây thần kinh toạ (là một dây thần kinh tuỷ) và lần lượt kích thích các đầu dây thần kinh (đầu ngoại biên (a) và đầu trung ương (b)).

          Qua quan sát hiện tượng phản ứng của ếch (khi kích thích đầu a chi đó co, có nghĩa là xung truyền theo hướng li tâm, nhưng khi kích thích đầu b thì chi đó không co, nhưng làm chi bên đối diện co, có khi co cả các chi trên, nghĩa là dây thần kinh toạ không chỉ truyền xung động li tâm mà truyền cả xung động hướng tâm. HS sẽ rút ra nhận xét là dây thần kinh tuỷ dẫn truyền hai chiều: hướng tâm (dẫn truyền cảm giác) và li tâm (dẫn truyền vận đông). Nó là dây pha.

Gia sư dạy kèm tại Thanh Hóa
Gia sư dạy kèm tại Thanh Hóa

          Giáo viên đặt vấn đề “Vậy, để hiểu rõ tính chất  “pha”, hãy tìm hiểu cấu trúc của dây thần kinh tuỷ và chức năng của các thành phần cấu trúc đó”.

          Từ đó, GV đi vào giới thiệu cấu trúc ” Bằng  phương pháp giảng giải minh hoạ” và tìm hiểu chức năng của các rễ tuỷ (bằng phương pháp thí nghiệm nghiên cứu) do đó sẽ hiểu rõ chức năng của dây thần kinh tuỷ: Do sự nhập lại của các sợi dây thần kinh hướng tâm và li tâm và nối với tuỷ sống qua các rễ sau (rễ cảm giác) và rễ trước (rễ vận động).

– Ở mức độ cao, thí nghiệm có thể sử dụng như một biện pháp để tạo tình huống có vấn đề,gây hứng thú nhận thức cho học sinh .

Thí dụ: Tạo tình huống có vấn đề bằng thí nghiệm về “tính bền vững của xương” khi dạy về thành phần hoá học của xương.

Cho HS quan sát chiếc xương đùi của ếch nhỏ bé và “thử dự đoán với trọng tải là bao nhiêu sẽ làm gãy chiếc xương đó khi đặt ở vị trí nằm ngang?”

GV lần lượt đặt vào đĩa cân các quả cân ban đầu lớn, sau đó cho thêm các quả cân nhỏ dần, vừa đặt vừa thông báo khối lượng mà xương đang gánh chịu. HS sẽ rất ngạc nhiên, không ngờ một chiếc xương nhỏ bé như vậy mà có thể chịu đựng được một khối lượng tới 3-4 kg vẫn chưa gãy. Một câu hỏi nãy sinh, “Như vậy sức chịu đựng lớn của xương do đâu mà có?” HS dự đoán: “Phải chăng do cấu trúc đặc biệt của xương, thành phần hoá học của xương hay do sự phối hợp của cả hai?

– Thí nghiệm không chỉ sử dụng trong lúc dạy các kiến thức mới mà còn được dùng cả trong khâu củng cố, hoàn thiện và kiểm tra các kiến thức sinh lí, trong trường hợp này không lặp lại hoàn toàn thí nghiệm đã sử dụng lúc dạy bài mới mà là một biến dạng của thí nghiệm đó (thí nghiệm góc), sử dụng hình thức thí nghiệm tương đương (thí nghiệm ảo).

          Ví dụ: Củng cố kiểm tra vai trò tác dụng của enzim trong dịch tiêu hóa, có thể tiến hành thí nghiệm sau: GV đưa ra thí nghiệm và thông báo: “An đang tiến hành thí nghiệm về vai trò của enzim trong dịch tiêu hoá thì gió làm bay các mảnh giấy đã đánh dấu trong 4 ống nghiệm đã được đặt trong cốc nước ấm. Một bạn đã giúp An thử nhỏ Iốt vào 4 ống nghiệm thì thấy 1 ống không cho màu (I) còn 3 ống kia có màu xanh. An tiếp tục dùng giấy quỳ để thử thì thấy 1 ống làm đỏ giấy quỳ tím (II), ngược lại một ống lại chuyển giấy quỳ màu đỏ sang màu tím nhạt (III), ống còn lại (IV) làm chuyển màu giấy quỳ”.

          Tới đây cả An và bạn An đang loay hoay chưa biết trong mổi ống nghiệm chứa gì để báo cáo với thầy giáo. Em có thể làm gì để giúp cho hai bạn đó không?

– Ngoài ra còn có thể hướng dẫn học sinh tiến hành những thực nghiệm ngay trên cơ thể của các em. *Chẳng hạn:

-Nghiên cứu sự thay đổi của nhịp tim mạch, nhịp hô hấp trong một phút sau khi lao động hay chạy tại chổ hoặc làm động tác đứng lên ngồi xuống 10 lần, so với trước lúc tiến hành các hoạt động trên và giải thích.

– Tìm hiểu khả năng nhịn thở (tính bằng giây) trước và sau khi thở hít sâu khoảng 10 lần, giải thích sự khác nhau về số liệu thu được.

– Thí nghiệm về ảnh hưởng của nhịp cơ và trọng tải đối với công của cơ.

  1. Phương pháp dạy các kiến thức ứng dụng:

3.1. Đặc điểm của các kiến thức ứng dụng

– Các kiến thức ứng dụng thường vận dụng các kiến thức cơ bản đã được lĩnh hội trước đó để tìm ra các biện pháp vệ sinh, rèn luyện cơ thể, nhằm tăng cường sức khoẻ, phương pháp xử lí các tình huống bất thường xảy ra đối với cơ thể và trong việc xây dựng các thói quen tập quán tốt.

– Ngoài ra, các kiến thức ứng dụng cũng chưa liên quan đến những nhu cầu nảy sinh trong đời sống thực tế hằng ngày của con người nên rất gần gũi đối với học sinh và cũng liên quan đến vốn sống mà các em đã tích luỹ được trong đời sống sinh hoạt của bản thân.

Cần thuê gia sư ở Thanh Hóa
Cần thuê gia sư ở Thanh Hóa

3.2. Phương pháp dạy học các kiến thức ứng dụng.

– Căn cứ vào các đặc điểm đã trình bày, khi dạy giáo viên khai thác triệt để vốn tri thức đã có, những vốn sống và kinh nghiệm mà học sinh đã tích luỹ bằng phương pháp đàm thoại có tính chất tìm tòi, thảo luận nhóm, trao đổi thông tin trong nhóm để học sinh tự tìm ra các biện pháp vệ sịnh. Phương pháp xử lí các tình huống (hô hấp nhân tạo, băng bó khi gãy xương, cầm máu…); giải thích cơ sở khoa học của các ứng dụng, của các hiện tượng thực tế, những mặt tích cực và tiêu cực trong cách sống, sinh hoạt của bản thân, gia đình và cộng đồng.

– Đây là cách củng cố kiến thức bằng vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng thực tế, đồng thời cũng là cách kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và chắc chắn các em sẽ nhớ lâu.

Trên đây đã trình bày những yêu cầu cần đạt và những phương pháp cơ bản để sử dụng khi dạy các kiến thức chủ yếu trong nội dung của chương trình sinh học 8. Trên cơ sở phân tích các đặc điểm của từng loại kiến thức giáo viên có thể vận dụng vào dạy học tuỳ theo nội dung từng bài và căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng trường, từng địa phương, vào trình độ của từng lớp mà quyết định các phương pháp dạy học cho thích hợp nhằm dạt chất lượng và hiệu quả cao nhất.

Bên cạnh việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học thích hợp còn cần quan tâm tới hình thức tổ chức dạy học… Xu hướng dạy học mới chú trọng nhiều tới hình thức tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ. Hình thức dạy học này tạo điều kiện cho nhiều học sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động học tập, có điều kiện được bộc lộ những suy nghĩ, lập luận, lí giải một vấn đề trong thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lí. Đây là dịp học sinh được tập dượt sử dụng ngôn ngữ khoa học trong lúc giao tiếp, là dịp để nâng cao năng lực tự đánh giá khii đối chiếu ý kiến của mình trong lúc lắng nghe ý kiến phát biểu của bạn, kết luận của thầy từ đó để tự điều chỉnh, để chính xác hoá những hiểu biết của bản thân giúp học sinh phát triển.

Để tìm được một gia sư tốt, phụ huynh đừng ngại liên hệ với chúng tôi bằng cách để lại thông tin vào ô dưới đây. Trung tâm gia sư Thanh Hóa sẽ liên hệ lại.

Nếu cần gấp phụ huynh có thể Gọi điện 0784300999, Chat facebook, Chat zalo bằng cách ấn vào các nút trên Website này vào mọi khung giờ thời gian. Chúng tôi luôn hân hạnh được phục vụ các quý vị PHỤ HUYNHHỌC SINH.



Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

goi-ngay-gia-tot