Dạy học sinh lớp 5 làm văn thông qua Luyện từ và câu

Dạy Tập làm văn qua phân môn Luyện từ và câu: 

Nếu ở giờ tập đọc, giáo viên đưa ra các ngữ liệu để dạy cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ và bước đầu vận dụng nó thì ở tiết này, giáo viên cho học sinh tiến hành luyện tập ứng với kiến thức vừa thu được. Qua các bài luyện từ và câu, giáo viên giúp các em hiểu biết thêm về sự phong phú của từ vựng trong cách tạo từ các lớp theo trật tự hoặc trong mối quan hệ về âm, về ngữ nghĩa. Từ đó các em được củng cố những hiểu biết trong cách dùng từ có chọn lọc vừa đảm bảo tính chính xác, vừa có tác dụng biểu cảm. Phần kiến thức này ngoài dạy ở tiết luyện từ và câu, tôi còn củng cố và hệ thống hóa bằng các loại bài tập đưa ra ở tiết luyện. Tôi đã xây dựng một số các bài tập nhằm giúp các em có nhiều vốn từ để vận dụng trong khi làm bài văn Tả người như sau:

  • Loại bài tập tìm từ theo chủ đề, đề tài.
  1. Dạng 1: Yêu cầu học sinh tìm từ theo chủ đề mở rộng vốn từ:

– Các từ ngữ trong chương trình được sắp xếp theo chủ đề. Khi dạy các bài này, giáo viên giúp học sinh hệ thống lại các từ ngữ đó và có thể tăng cường mở  rộng thêm.

Ví dụ: Các em đã được học bài  mở rộng vốn từ : Nhân hậu – Đoàn kết  Tuần 3, lớp 4, do vậy khi dạy bài Tổng kết vốn từ: Bài1/Tiết 31/ Tuần 16, tôi đưa ra bài tập:

“Tìm những từ nói lên lòng nhân hậu và đoàn kết của con người?”

(Học sinh có thể tìm các từ: yêu quý, kính trọng, trên kính dưới nhường, hiếu thảo, gần gũi, thân mật, hòa thuận, đầm ấm, gắn bó, thương yêu, đùm bọc, che chở, san sẻ, chan hòa…)

Hay trong tiết luyện của tuần này tôi đưa thêm cho các em bài tập:

“Tìm các từ miêu tả tính tình vui vẻ của một người?”

(Do đã được học bài mở rộng vốn từ: Lạc quan yêu đời ở lớp 4 nên hầu hết các em tìm được các từ: Vui vẻ,  vui sướng, vui thích, vui tính, vui tươi, vui nhộn…)

Từ đó, tôi đã giúp các em có vốn từ ngữ về miêu tả đặc điểm tính cách của người, giúp các em vận dụng vào viết văn. Các em dễ dàng viết được như sau:

Bạn Phương là  một người vui vẻ, sống chan hòa với mọi người. Phương sẵn sàng giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn. Ở nhà, đối với ông bà, cha mẹ Phương là người cháu rất hiếu thảo, đối với em Phương là người chị dịu dàng, luôn nhường nhịn các em…

          Lưu ý: Đối với đối tượng học sinh có năng khiếu, song song với việc mở rộng vốn từ, giáo viên có thể cho các em luyện nói câu, nói đoạn.

  1. Dạng 2: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức từ loại.

Khi dạy về từ loại, đối với các bài tập: Danh từ – Động từ – Tính từ giáo viên có thể đưa ra các bài tập để phục vụ trực tiếp cho bài Tập làm văn của các em.

          Ví dụ:

* Tìm những từ chỉ hoạt động:

– Hoạt động của thầy cô giáo: giảng bài, soạn bài, hướng dẫn, dạy bảo, uốn nắn…

– Hoạt động học tập của học sinh: học bài, viết bài, đọc bài, nghe giảng, chăm chú, luyện tập, thực hành, phát biểu…

– Hoạt động nấu ăn của mẹ: Sửa soạn, cặm cụi, tất bật xào, nấu…

* Tìm những từ chỉ hoạt động về:

– Tính tình của một bạn học sinh ngoan: ngoan ngoãn, dịu dàng thân thiện, cởi mở, vui vẻ, hòa nhã…

– Hình dáng của một em bé: hồn nhiên, ngây thơ, nhí nhảnh, mũm mĩm, trắng hồng, nũng nịu….

Ngoài các yêu cầu tìm danh từ, động từ, tính từ giáo viên cũng cần  chú ý dạy học sinh bài tập thay thế các danh từ bằng các đại từ chỉ ngôi thích hợp để câu văn không bị lặp từ. Việc dạy học sinh xác định cách dùng từ đúng với từ loại, tiểu loại của chúng bằng cách xây dựng các bài tập dựa trên ngữ liệu là các lỗi dùng từ sai của học sinh và để học sinh tự sửa, giúp các em rút ra được cách dùng từ thế nào cho đúng.

Ví dụ: Sửa đoạn văn sau bằng cách dùng đại từ thay thế.

Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp. Viết xong, cô giáo ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười. Cô giáo như muốn khuyến khích chúng em hãy viết đẹp giống như mình.

– Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn nhiều lần.

– Tìm các từ bị lặp lại trong đoạn văn: cô giáo, chúng em.

– Hãy tìm các đại từ chỉ người hoặc các từ đồng nghĩa với các từ đó để thay thế.

Học sinh đã tìm và sửa lại như sau:

Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp. Viết xong,   ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười.  Người mẹ dịu dàng ấy như muốn khuyến khích đàn con thơ ngây hãy viết đẹp giống như mình.

  1. Dạng 3: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức cấu tạo từ.

Ví dụ:  Khi dạy bài tiết luyện tập làm bài văn Tả người tuần 17, tôi đưa loại bài tập dựa trên kiến thức từ loại mà các em đã học ở lớp 4. Cụ thể là các bài tập sau:

1). Tìm những tiếng ghép với tiếng hiền  để tạo thành từ ghép chỉ tính nết của người? (hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền thục…)

2). Tìm những từ chứa tiếng  ” xinh” để tả hình dáng của người?

(xinh xinh, xinh xắn, nhỏ xinh…)

3). Tìm nghững từ ghép, từ láy chỉ các hoạt động của người? (nhanh nhẹn, hoạt bát, cần mẫn, chăm chỉ, thức khuya, dậy sớm, xốc vác…)

Tóm lại khi dạy dạng bài tập này giáo viên cần phải khéo léo khi lồng ghép các bài tập và hướng dẫn đúng mức, hợp lý nhằm giúp học sinh phát hiện ra các từ ngữ xoay quanh một đề tài nhất định như tả cụ già hay em bé, tả giáo viên hay công nhân, nông dân…Tả chân dung hay tả hoạt động…Từ đó giúp các em có thể lựa chọn từ thích hợp đã tìm được ở dạng bài tập này để miêu tả tính cách, hình dáng của một người nhằm phục vụ trực tiếp đến việc dùng từ đặt câu chính xác phù hợp văn cảnh khi làm văn Tả người của các em.

1.1.2 Loại bài tập củng cố. Kiểm tra về nghĩa của từ.

Khi được luyện tập trên những bài này, học sinh nắm chắc được nghĩa của từ và hiểu rằng trong nhiều trường hợp, để diễn đạt một điều gì đó thì không phải chỉ có duy nhất một từ mà còn bao nhiêu từ khác gần nghĩa, đồng nghĩa có thể thay thế cho nó. Từ đó mà bài văn của các em có cách diễn đạt phong phú hơn.

          Bài 1: Cho các từ sau:

          Cao lớn, trung thực, lười nhác, giả dối, nhỏ bé, chăm chỉ, sần sùi, trắng trẻo, mịn màng, lực lưỡng, mảnh khảnh, đen đủi, mập mạp, còm nhom, gian giảo, nhút nhát, bạo dạn, chất phác, nhu nhược, hèn yếu, anh dũng, siêng năng, lười biếng…

– Hãy chia các từ trên thành hai nhóm và đặt tên cho mỗi nhóm.

– Tìm những cặp từ trái nghĩa trong cùng nhóm.

Ở bài tập này giúp học sinh có khả năng lựa chọn một từ trong nhóm từ cùng nghĩa – gần nghĩa – trái nghĩa để diễn đạt chính xác nội dung của một câu văn, đoạn văn mà mình định viết. Ngoài ra, loại bài tập này không chỉ giúp các em diễn đạt một cách tinh tế nội dung tư tưởng của mình mà còn cung cấp thêm  vốn từ tránh những trường hợp sử dụng từ nhầm lẫn (về nghĩa và sắc thái biểu cảm).

Bài 2: Hãy gạch chân dưới những từ dùng chưa phù hợp rồi sửa lại cho đúng.

– Cô giáo em có nước da đen sì. Giọng nói của cô oang oang.

– Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc.

– Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái.

– Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng.

Với dạng bài tập này, tôi đã tiến hành làm như sau:

  1. Phát hiện từ dùng sai
  2. Sửa lại cho đúng

Để giải quyết yêu cầu 1, tôi dẫn dắt để học sinh thấy được đối tượng miêu tả là ai, thái độ của người viết đối với người định tả thế nào, từ dùng ở hoàn cảnh đó đúng chưa?…

Dựa vào định hướng của cô, học sinh đã xác định được những từ dùng chưa phù hợp như sau:

– Cô giáo em có nước da đen sì. Giọng nói của cô oang oang.

– Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc.

– Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái.

– Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng

Để giải quyết yêu cầu 2, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra được các từ gạch chân ở trên dùng chưa thích hợp với đối tượng và văn cảnh tả:

– Đối tượng được tả trong câu văn trên là ai? (Cô giáo, bạn bè, người thân)

– Họ có mối quan hệ với em ra sao? (là thầy cô dạy mình, là bạn bè, là người thân….)

– Khi muốn nói về người tốt hoặc người thân, bạn bè, nói về tình cảm của bề trên với bề dưới mà chúng ta dùng các từ gạch chân như văn cảnh trên đã thể hiện được sự kính trọng hay tôn trọng chưa? (chưa được).

– Vậy ta phải thay thế chúng như thế nào? (Tìm các từ có cùng nghĩa, trái nghĩa,… để  thay thế)

Giáo viên cho học sinh thi đua tìm từ thay thế và tự sửa lại cho phù hợp văn cảnh.

Nếu học sinh yếu không tìm được thì giáo viên có thể cung cấp nhóm từ cho học sinh lựa chọn. Như:

          – Đen sì: đen nhẻm, da nâu, da bánh mật, da dám nắng…

          – Oang oang: vang vang, ông ổng, thánh thót, trầm ấm, trong trẻo….

          – Hồng hộc: hổn hển, phì phò….

          – Bác ái: nhân hậu, nhân ái, thương người…(Giáo viên lưu ý khi học sinh lựa chọn từ bác ái, nhân ái là: dùng từ này không sai nhưng chỉ nên dùng khi nói về một người quan trọng, một vĩ nhân còn nói về người bình thường như chúng ta trong cuộc sống hằng ngày thì không nên).

– Trọng vọng: tin yêu, tin tưởng, đề cao, đánh giá cao…

Qua đó học sinh đã sửa được câu như sau:

– Cô giáo em có nước da bánh mật. Giọng nói của cô trầm ấm (thánh thót).

– Hùng vừa thi chạy xong thở hổn hển.

– Bạn Hiếu có tấm lòng nhân hậu (thương người).

– Bố mẹ em rất được ông bà tin tưởng (tin yêu).

          Vậy bài tập này nhằm giúp học sinh nhận biết được lỗi dùng từ sai, biết tìm từ khác để thay thế, sửa chữa khi dùng từ chưa chính xác. Ngoài ra bài tập còn cung cấp và làm giàu vốn từ cho học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các em lựa chọn khi miêu tả hình dáng, tính nết của một người. Đặc biệt lưu ý là khi tả người, cách dùng từ phải phù hợp với đối tượng miêu tả, thể hiện được thái độ, tình cảm với người được tả.

          1.1.3 Loại bài tập về từ láy:

          Ví dụ: Khi dạy tiết 30 (tuần 15). Bài 3: Tìm các từ ngữ miêu tả hình dáng người như mái tóc, đôi mắt, khuôn mặt, làn da, vóc người, tôi còn yêu cầu các em là tìm thêm các từ láy tả hình dáng, giọng nói của người.

Tôi thường yêu cầu các em như: Hãy tìm các từ láy miêu tả người?

– Tả mái tóc: mượt mà, lơ thơ, dày dặn, xơ xác, lưa thưa, óng ả…

– Tả đôi mắt: lay láy, mơ màng, sâu thăm thẳm, đỏ đọc…

– Tả khuôn mặt: bầu bĩnh, bầu bầu tròn trịa, bụ bẫm, nhẹ nhõm, vuông vức, đầy đặn, nho nhã, tươi tỉnh…

– Tả giọng nói: thánh thót, ngân nga, nhẹ nhàng, trong trẻo, ông ổng, oang oang, khà khà…

– Tả thân hình: vạm vỡ, mập mạp, to bè bè, lực lưỡng, thanh mảnh, dong dỏng, thon thả, khỏe khoắn…

– Dáng đi: uyển chuyển, thướt tha, ưỡn ẹo, khệnh khạng, tấp tểnh, hấp tấp….

– Tả đôi tay: gầy gầy, xương xương, thon thả, nhỏ nhắn…..

– Tả làn da: trắng treo, trắng nõn nà, ngăm ngăm, mịn màng, nhẵn nhụi, nhăn nheo, sần sùi, xù xì, đen đúa, hông hào, xanh xao, vàng vọt…

– Tả hàm răng: Đều đặn, đều như hặt bắp, trắng phau, trắng tinh, khấp khểnh…

– Tả tính tình: gần gũi, dịu dàng, nết na, cầu kì, cẩn thận, chỉn chu, khéo léo, cấm cảu, gắt gỏng, càu nhàu…

Sau khi học sinh tìm xong các từ theo yêu cầu, tôi giúp các em thấy được tầm quan trọng của những từ láy, nhất là các từ gợi hình ảnh, gợi âm thanh đều có sức gợi tả, gợi cảm cao. Nếu sử dụng nó trong văn miêu tả nói chung và văn tả người nói riêng sẽ tăng giá trị biểu đạt cho câu văn, bài văn, làm cho câu văn, bài văn giàu hình ảnh và sinh động hơn.

          Tóm lại loại bài tập này góp phần làm giàu vốn từ cho học sinh, một lần nữa giúp học sinh có thêm sự lựa chọn từ ngữ để miêu tả sao cho sinh động và giàu hình ảnh hơn.

1.1.4 Loại bài tập về thành ngữ, quán ngữ, tục ngữ:

Ngoài việc cung cấp, làm giàu thêm vốn từ cho các em thì giáo viên cũng cần quan tâm đến việc dạy thành ngữ, quán ngữ và tục ngữ thông dụng nhằm giúp cho cách diễn đạt của các em trong sáng, nhuần nhuyễn và sinh động, ngôn ngữ phong phú mang đậm bản sắc dân tộc. Sau khi học sinh học xong bài 2 tiết 30 tuần 15 tôi cho thi đố vui trong mục hoạt động tập thể của tiết sinh hoạt lớp hoặc những giờ luyện Tiếng việt, tiết mở rộng vốn từ theo chủ đề…nếu thấy thích hợp. Sau đó tôi cho học sinh liên hệ sử dụng một số thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ trong văn miêu tả, giúp các em nhận biết là sử dụng trong trường hợp nào để tả người:

          + Quan hệ gia đình:

– Chị ngã em nâng.

– Anh em như thể chân tay.

Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần

– Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

– Con có cha như nhà có nóc.

– Con hơn cha là nhà có phúc.

– Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

– Con hát, mẹ khen hay.

– Cắt dây bầu dây bí,

Ai nỡ cắt dây chị dây em

– Khôn ngoan đối đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

– Kính trên nhường dưới.

– Máu chảy ruột mềm.

– Tay đứt ruột xót.

          + Quan hệ thầy trò:

– Không thầy đố mày làm nên.

– Muốn sang thì bắc cầu Kiều

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

– Kính thầy yêu bạn.

– Tôn sư trọng đạo.

Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy.

          + Quan hệ bạn bè:

– Học thầy không tầy học bạn.

– Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ

– Một cây làm chẳng lên non

Ba cây chụm lại lên hòn núi cao.

– Bán anh em xa. Mua láng giềng gần.

– Thua thầy một vạn không bằng kém bạm một li.

– Bạn bè con chấy cắn đôi.

– Bạn nối khố.

– Bốn biển một nhà.

– Buôn có bạn, bán có phường.

– Bạn bè là nghĩa tương tri,

Sao cho sau trước chọn  bề mới yên.

          + Nhận xét về con người:

– Tài sắc vẹn toàn, khôi ngô tuấn tú, đẹp như hoa, đẹp như tiên, nghiêng nước nghiêng thành, trắng như tuyết, đỏ như son,  khỏe như trâu, khỏe như voi, hiền như đất, hiền như Bụt, nóng như lửa.

          + Nói về như vất vả, khó nhọc:

– Vượt núi băng rừng,  trèo  đèo lội suối, chân lấm tay bùn, hai sương một nắng, thức khuya dậy sớm, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.

Loại bài tập này giúp học sinh làm giàu vốn thành ngữ tục ngữ của mình, hiểu được nghĩa của thành ngữ tục ngữ. Qua đó các em có thể sử dụng trong mọi tình huống giáo tiếp và sử dụng trong văn tả người như nêu tình cảm của người viết với người được tả hay nhận xét về mối quan hệ của đối tượng miêu tả trong bài với mọi người xung quanh hay nhận xét về tính cách, vẻ đẹp hình dáng, tâm hồn… của đối tượng tả, trong bài văn tả người không chỉ sử dụng có từ đơn, từ ghép, từ láy mà còn có cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao… làm cho bài văn có ngôn từ đa dạng, xúc tích, phong phú hơn.

          1.1.5. Dạy Tập làm văn qua đơn vị câu, dấu câu:

Một thực trạng khá phổ biến ở các bài văn của học sinh hiện nay là học sinh thường viết những câu ” què”, câu  ” cụt” và bài viết không có dấu ngắt câu. Có khi trong cả  bài viết các em chỉ ngắt câu để phân biệt ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài. Vì vậy, trước hết giờ học về câu cần rèn cho học sinh kĩ năng viết câu đúng. Có thể thực hiện điều này qua việc cho các em làm các bài tập thực hành về câu, sửa các viết sai câu và dùng sai dấu trong tiết Trả bài Tập làm văn.           Một số bài học  sinh viết như sau:

Bài 1: “Mẹ em đẹp lắm mẹ có dáng người nhỏ nhắn nước da trắng hồng đôi bàn tay dịu dàng của mẹ làm không biết bao nhiêu là việc cho em và gia đình mẹ đẹp người và cũng đẹp cả nết..”

Bài này học sinh chỉ sai là không chấm câu còn ý và nội dung thì đảm bảo. Vậy tôi yêu cầu học sinh đọc và xác định:

– Đoạn văn trên tác giả tả đến đặc điểm nào của mẹ?

– Mỗi đặc điểm đó có tương tương với một ý không?

– Mỗi ý diễn đạt trọn vẹn có tương đương với một câu không?

– Hãy ngắt đoạn văn trên thành các câu tương đương với mỗi ý vừa xác định được: đặt dấu chấm và viết hoa câu cho đúng.

Qua gợi ý học sinh đã sửa được như sau:

” Mẹ em đẹp lắm. Mẹ có dáng người nhỏ nhắn, nước da trắng hồng. Đôi bàn tay dịu dàng của mẹ làm không biết bao nhiêu là việc cho em và gia đình. Mẹ đẹp người và  cũng đẹp cả nết…”

Bài 2: Sửa các dòng chưa thành câu cho thành câu:

– Trên gương mặt hồng hào.

– Chòm râu trắng ấy.

– Trong đôi mắt sâu thẳm của mẹ.

– Bằng tình thương yêu cô truyền cho tôi.

Yêu cầu học sinh chữa các dòng cho thành câu bằng hai cách khác nhau:  bỏ một từ hoặc thêm bộ phận chủ ngữ, vị ngữ (đây thường là những dòng có các từ  “khi”, “qua”, “trên”,”trong” đứng ở đầu câu đó là những trạng ngữ dài hoặc chỉ là một ngữ danh từ mà học sinh lầm tưởng là câu). Trong quá trình sửa sai tôi còn lưu ý thêm cho học sinh ngoài việc  diễn đạt bằng những câu đơn còn phải diễn đạt bằng câu ghép hoặc câu có nhiều thành phần thì câu văn, đoạn văn sẽ không khô khan cứng nhắc mà trái lại rất mượt mà, sinh động. Các em có thể viết được những câu văn cấu tạo không chỉ có thành phần chính (chủ ngữ-vị ngữ) mà còn có nhiều thành phần phụ nhằm diễn tả sinh động đối tượng được nói đến (về màu sắc, hình dạng, kích thước, tính chất, hoặc đặc điểm riêng) qua việc làm các bài tập thực hành phân loại và viết các kiểu câu theo cấu tạo.

Ví dụ: Tách các bộ phận câu, ghép các bộ phận câu cho trở thành câu đúng, thêm bộ phận thích hợp vào chỗ trống trong câu, đặt câu theo mô hình, theo đề hoặc cấu trúc cho sẵn, chuyển hai câu đơn thành câu ghép theo yêu cầu.

Qua các bài tập câu, dấu câu, giáo viên giúp các em rèn luyện kĩ năng sử dụng dấu câu, đặt câu. Qua đó học sinh thấy rằng: Muốn diễn đạt đúng ý, tình cảm của mình đối với người định tả và để người đọc, người nghe thông hiểu và cảm nhận được nội dung ý tứ của bài văn thì phải biết diễn đạt thành câu rõ ý, đủ lời. Từ đó giúp các em làm quen với các kiểu câu khi diễn đạt và cấu trúc của một câu đúng, câu đủ thành phần, có thói quen và ý thức viết đúng câu, sử dụng đúng dấu câu. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc viết đoạn, viết bài tốt hơn.

          1.1.6 Loại bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề, đề tài:

Tiết luyện từ ở lớp 4-5  có loại bài dùng từ đặt câu, viết thành một đoạn văn ngắn theo chủ đề đã xác định nhằm luyện cho học sinh cuối bậc Tiểu học kĩ năng sử dụng từ ngữ ở mức độ cao, trực tiếp phục vụ cho việc làm văn nói-viết. Ở những bài tập này, giáo viên gợi ý hướng làm bài cho các em bằng một số câu hỏi nhằm viết một đoạn văn mạch lạc, đúng chủ đề cho trước (hoặc vấn đề do học sinh tự chọn theo yêu cầu của đề bài).

Ví dụ: (Bài tập 2 tiết 28. Ôn tập về từ loại trang 143 Tiếng Việt 5 tập 1) đã yêu cầu học sinh dựa vào khổ thơ 2 của bài Hạt gạo làng ta để viết một đoạn văn ngắn tả mẹ đi cấy giữa trưa tháng sáu.

Hay (bài tập 4 tiết 30. Bài tổng kết vốn từ trang 151 Tiếng Việt lớp 5 tập 1). Yêu cầu của bài là dùng một số từ (khoảng 5 từ ngữ) ở bài 3 để đặt câu viết một đoạn văn ngắn tả về hình dáng của một người thân hoặc một người em quen biết.

– Sau khi cho học sinh đọc sách giáo khoa, xác định yêu cầu bài tập, giáo viên gợi ý bằng một số câu hỏi sau:

+ Người em định tả là ai? (bà, bố, mẹ, cô giáo.)

+ Đề bài yêu cầu tả chân dung hay hoạt động của người?

+ Người đó có hình dáng hay hoạt động gì nổi bật?(mái tóc, khuôn mặt, dáng đi, tư thế, tác phong, hành động trong lúc làm việc).

– Ngoài việc giúp học sinh nắm vững bài học, hiểu yêu cầu bài tập, giáo viên còn phải lưu ý thêm: để viết được đoạn văn ngắn theo yêu cầu thì phải xác định được nội dung và tìm ý, sắp xếp các ý rồi tìm cách diễn đạt sao cho phù hợp với nội dung đó. Nhờ vào  định hướng trên học sinh đã viết như sau:

“Bà nội em đã ngoài 70 tuổi. Mái tóc của bà bạc phơ luôn búi cao sau gáy. Gương mặt già với nhiều nếp nhăn hằn sâu. Lưng đã hơi còng, chân tay gầy guộc nhưng dáng đi của bà vẫn còn nhanh nhẹn lắm.”(Bài tập 4 tiết 30)

“Mẹ em có dáng người nhỏ bé, lọt thỏm trong bộ quần áo bà ba đen. Mái tóc dài được mẹ búi cao để khi cúi xuống cấy tóc không bi bẩn. Đôi tay của mẹ đang thoăn thoắt như múa trên mặt ruộng. Thỉnh thoảng mẹ lại đứng lên cho lưng đỡ mỏi và đưa mắt nhìn những hàng mạ thẳng tắp vừa mới cấy xong có vẻ hài lòng. Nhìn cách mẹ chia mạ, chăng dây và cấy em thán phục mẹ biết bao.” (bài tập 2 tiết 28).

Loại bài tập này, với cách làm trên, sẽ giúp học sinh xác định rõ nội dung và chủ đề của đoạn văn định tả, xác định rõ bố cục của đoạn văn tránh được hiện tượng viết đoạn văn không rõ chủ đề, không rõ nội dung hoặc lạc yêu cầu của bài và khi viết bài văn các em sẽ xác định được đoạn này ở vị trí nào trong bài tránh được tình trạng lặp ý, lặp đoạn làm cho bài văn có chỗ thừa chỗ thiếu, lủng củng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

goi-ngay-gia-tot