Biện pháp giúp trẻ 3-4 tuổi tự lập

Hiện nay, nhất là đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ mầm non, vấn đề giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ đã được quan tâm nhiều hơn. Vì vậy, từ nhiều năm nay, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu sự phát triển khả năng tự lập của trẻ và kết luận: Những trẻ có tính tự lập sớm, khi lớn lên trẻ sẽ tự xây dựng lấy cuộc sống cho mình mà không ỷ lại vào người khác. Chính vì vậy giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ phát huy khả năng tự lập, trẻ biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự giác, tự tin thể hiện được khả năng, năng lực của mình từ đó làm cơ sở cho sự hình thành nhân cách của trẻ giúp trẻ phát triển một cách toàn diện sau này.

  1. Biện pháp 1: Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, khả năng của lứa tuổi:

1.1: Tâm sinh lý lứa tuổi.

Để có những biện pháp giáo dục kĩ năng tự lập cho trẻ mẫu giáo bé mà tôi đang phụ trách. Ngay từ khi nhận lớp, tôi đã tìm hiểu về tâm sinh lý, về khả năng nhất định của trẻ để phần nào hiểu được tâm sinh lý cũng như nhu cầu của bản thân trẻ từ đó đưa ra kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ tốt nhất.

Nhắc đến trẻ lên ba, ai ai cũng nghĩ ngay tới cụm từ “Khủng hoảng tuổi lên ba”. Thật vậy, bởi tâm lý trẻ 3 tuổi khá đặc biệt. Có lúc ngoan rất ngoan, có lúc lại hư không ai bảo được, nó cứ như một vòng quay lúc thế này lúc thế kia, nói nhiều hỏi lắm, khó vừa ý. Bởi một cái “tôi” trong trẻ xuất hiện, trẻ thích làm mọi thứ theo ý của mình, trẻ thích tập làm người lớn, quan tâm nhiều hơn đến thế giới xung quanh, cái gì cũng có vẻ như có nam châm thu hút bé vào cuộc. Những tình trạng chống đối, không chịu phục tùng, nói một đằng làm một nẻo, mọi câu trả lời của người lớn dường như là không hài lòng cứ liên tục tiếp diễn, thích và muốn, trẻ cần được chú ý bằng mọi cách.

Ví dụ 1: Trong giờ thể dục sáng. Khi nhạc cất lên là khi bài tập bắt đầu. Có nhiều trẻ khi nghe nhạc thì đánh trống lảng, coi như không nghe tiếng, không làm theo lời cô. Thậm chí còn lại gần cô hơn hoặc đứng lùi hẳn ra xa các bạn để cho cô biết rằng mình chưa làm theo lời cô. Có trẻ thì biện đủ lý do như: mỏi tay, mỏi chân, Hay có sử dụng dụng cụ gì thì cũng tìm lý do để chống lại như hôm nay con không thích tập vòng với các bạn, con tập gậy, con thích tập cái này, cái kia và chốt lại là không muốn làm theo những gì cô dạy.

 

Ví dụ 2: Trong giờ vệ sinh, khi một số bạn rửa tay rất nhanh và về vị trí thì lại có một số bạn tỏ vẻ chống đối vì không muốn dừng chơi trước đó hoặc vì không muốn đi rửa, nên cố tình rửa chậm, lấy thật nhiều xà phòng để chơi, thậm chí là bôi xà phòng vào bạn khác, hay lên tường để gây sự chú ý của người khác mà không tuân theo hướng dẫn của cô.

 

1.2: Khả năng của lứa tuổi.

Nếu giáo viên không biết được đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ thì  không thể biết được trẻ đó có khả năng làm được những công việc gì, đã phù hợp với lứa tuổi của trẻ hay chưa. Liệu rằng có vừa sức với trẻ không? Hay những việc đó là nặng nhọc đối với trẻ. Để từ đó cô lựa chọn những kỹ năng phù hợp nhất cho trẻ thực hiện.

Tôi luôn để các câu hỏi, câu nói mở đối với trẻ trong mọi tình huống và trường hợp. Không áp đặt hay yêu cầu trẻ làm khi trẻ không cảm thấy thoải mái, tùy cho trẻ chọn lựa khả năng của mình thích hợp thực hiện hoạt động đó như thế nào.

Ví dụ: Sau khi kết thúc giờ hoạt động tôi luôn khuyến khích động viên trẻ giúp cô theo khả năng của mình và cho trẻ chọn công việc phù hợp với trẻ. Có trẻ thì cất ghế, trẻ cất sách, trẻ cất bút…

 

“Khủng hoảng tuổi lên 3” là hiện tượng phổ biến mà đa số trẻ đều gặp phải. Song nó lại mang tính tạm thời, chuyển tiếp. Sự tách rời về bản thân ra khỏi người khác, mong được độc lập tự chủ đó là tiền đề cho sự hình thành nhân cách trẻ trong những giai đoạn tiếp theo.Vì vậy tạo kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ là rất quan trọng. Đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu tìm hiểu, quan sát, gần gũi trẻ để hiểu rõ tâm sinh lý của trẻ. Qua tìm hiểu, tôi phần nào nắm được tính cách, sở thích, thái độ, khả năng của từng trẻ. Từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động của lớp mình một cách khoa học, hiệu quả

  1. Biện pháp 2. Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ.

Để việc giáo dục kỹ năng tự lập cho trẻ đạt được kết quả cao, ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch cụ thể, rõ ràng từng tháng xuyên xuốt từ những kĩ năng dễ tới những kỹ năng khó như sau:

Kế hoạch giáo dục kĩ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ lớp mẫu giáo bé:

Tháng Kĩ năng
Tháng 9 – Biết lấy và cất đồ dùng cá nhân khi đến lớp và ra về.

– Biết tự đi lấy nước uống và cất cốc đúng nơi quy định.

Tháng 10 – Biết tự đi lên xuống cầu thang

– Biết tự đi vệ sinh khi có nhu cầu

Tháng 11 – Biết tự gấp khăn của mình

– Biết cất, xếp đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định.

Tháng 12 – Biết tự cầm thìa xúc ăn mà không cần cô nhắc.

– Biết bỏ rác đúng nơi quy định

Tháng 1 – Biết tự rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn bằng xà phòng

– Biết tự xúc miệng nước muối sau khi ăn

Tháng 2 – Biết tự chào hỏi người lớn

– Biết đi và tháo giầy, dép.

Tháng 3 – Biết giúp đỡ người khác khi được yêu cầu

– Biết cởi, mặc quần áo

Tháng 4 – Biết kêu gọi sự giúp đỡ của người khác khi cần

– Trẻ tự tin làm một số công việc

Và theo tôi, để trẻ có được kỹ năng tự lập, tự phục vụ thì cô cần có quy trình nhất định để thực hiện kế hoạch một cách dễ dàng mà mang lại hiệu quả không nhỏ.

1.Cung cấp kỹ năng.

  1. Tạo nhiều cơ hội cho trẻ được luyện tập.
  2. Hình thành thói quen.
  3. Vận dụng linh hoạt vào các hoạt động. Đảm bảo quy tắc từ dễ đến khó cho trẻ thực hiên.
  4. Biện pháp 3. Lựa chọn hình thức tổ chức.

            3.1. Trải nghiệm. thực hành.

Trẻ có thể học được rất nhiều điều từ một hoạt động tưởng chừng như đơn giản nếu như chúng ta biết cách tổ chức các hoạt động để tạo sự hứng thú và khác biệt đối với trẻ. Qua thực hành trải nghiệm, trẻ sẽ có thể dần hình thành kĩ năng tự học, tự tìm hiểu và khám phá. Việc tự xây dựng hiểu biết cho mình giúp trẻ hiểu sâu sắc bản chất của sự vật hiện tượng và ghi nhớ lâu những điều thu nhận được. Góp phần không nhỏ để trẻ hoàn thiện dần những kĩ năng thực hiện công việc và sự khéo léo của đôi bàn tay, sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay và mắt. Phát triển khả năng sáng tạo thông qua các hoạt động tạo hình, và thể hiện nét biểu cảm riêng của mình vào mỗi sản phẩm. Có khả năng tập trung thực hiện và hoàn thành công việc đến cùng mà không cảm thấy mệt mỏi nhờ những trải nghiệm thú vị. Trẻ học được cách hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau và sự phân công trong công việc làm cho bé có sự chủ động cá nhân, trong khi vẫn đảm bảo công việc chung của nhóm. Học được trình tự công việc: từ khâu chuẩn bị, thực hiện cho đến kết thúc.

 

  1. 2. Ứng dụng công nghệ thông tin.

       Cô có thể cho trẻ xem video, hình ảnh dạy trẻ các kỹ năng tự lập, tự phục vụ trên ti vi hay máy chiếu

Ví dụ: Cô có thể lựa chọn những nội dung dạy trẻ các kỹ năng tự lập, tự phục vụ phù hợp như đĩa CD nguồn chính thống cho trẻ xem trên ti vi hay máy chiếu vào các buổi hàng ngày.

3.3. Hướng dẫn, làm mẫu

Trẻ mầm non thích bắt trước và chúng có thể học rất nhanh những điều người lớn làm. Chính vì vậy việc hướng dẫn, làm mẫu cho trẻ là rất quan trọng. Ví dụ: Cô dạy trẻ kỹ năng gấp áo:

Hình thức: Cô cho trẻ ngồi thành hình chữ U, cô giới thiệu cho trẻ tên kỹ năng  “Gấp áo”. Cô giải thích cho trẻ mục đích của việc gấp quần áo là giúp cho áo quần luôn phẳng không bị nhàu nhìn sẽ thấy gọn gàng, đẹp mắt hơn và để vào ba lô hay tủ quần áo sẽ để được nhiều hơn.

Cô làm mẫu lần 1: không giải thích (cô làm chậm, rõ ràng từng động tác)

Cô làm mẫu lần 2: kết hợp với giải thích bằng lời, khi muốn gấp được một chiếc áo trước tiên cô trải phẳng áo, sau đó cô gấp lần lượt từng tay áo vào dọc theo thân áo (nếu áo có mũ thì cô gấp mũ từ phần cổ áo xuống thân). Sau đó cô gấp đôi áo lại.

       Ví dụ: Dạy trẻ thao tác của kỹ năng rửa tay: Sắn tay áo, mở vòi nước làm ướt tay, tắt vòi nước, lấy xà bông xoa vào tay, xoa hai lòng bàn tay vào nhau, lần lượt rửa mu bàn tay 2 bên, rửa từng ngón tay, kẽ tay và các đầu ngón tay. Cô cho cả lớp thao tác tay không trước sau đó cho từng nhóm được thao tác với nước. Qua đó, cô còn có thể lồng ghép việc sử dụng tiết kiệm năng lượng khi hướng dẫn cho trẻ.

* Phương pháp hướng dẫn của giáo viên:

– Lần 1: Thực hiện thao tác không phân tích (làm chậm, rõ từng thao tác).

– Lần 2: Nhấn vào các kỹ năng, thao tác khó (có thể kết hợp với phân tích bằng lời).

* Hình thức và thời điểm thực hiện:

– Giáo viên hướng dẫn theo nhóm lớn, nhóm nhỏ hoặc cá nhân.

– Thời điểm hướng dẫn: Hoạt động học và các hoạt động khác trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ (linh hoạt, phù hợp, dưới hình thức các trò chơi, thi đua…).

  1. Biện pháp 4. Xây dựng môi trường phục vụ cho hoạt động của trẻ.

Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, đảm bảo an toàn tuyệt đối cả về thể chất và tinh thần cho trẻ là một yêu tố quan trọng. Chính vì vậy việc xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động là xây dựng một môi trường an toàn, thân thiện, ấm cúng, trình bày đẹp mắt, thu hút trẻ và phù hợp với trẻ từ đó giúp trẻ chủ động tham gia vào các hoạt động. Có cơ hội trải nghiệm và tích cực tham gia các hoạt động.

4.1. Môi trường vật chất.

Ngay từ những ngày đầu được giao nhiệm vụ phụ trách lớp. Tôi đã lên kế hoạch trang trí môi trường trong và ngoài lớp xanh, sạch, đẹp. Trang trí các góc đảm bảo phân chia hợp lý giữa động và tĩnh, đảm bảo tính sư phạm, an toàn và thuận tiện khi trẻ sử dụng. Ngoài những đồ dùng, dụng cụ theo thông tư 02, được trang bị đầy đủ. Tôi đã mạnh dạn tham mưu thêm với Ban giám hiệu nhà trường về một số đồ dùng trang thiết bị để phục vụ cho hoạt động của trẻ (Nhà trường kết hợp với phụ huynh mua bình nước nóng cho lớp) các nguyên vật liệu cần thiết (xốp màu, đề can, giấy màu, hồ dán, keo nến…) để phục vụ cho hoạt động trang trí lớp cũng như làm đồ dùng đồ chơi phục vụ cho hoạt động của cả cô và trẻ.

Tôi thường xuyên kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi của lớp, nếu phát hiện hỏng hay xuống cấp sẽ báo ngay với ban giám hiệu nhà trường để kịp thời sửa chữa, khắc phục những yếu tố gây nguy cơ mất an toàn cho trẻ khi tham gia hoạt động tại lớp.

Bên cạnh đó, tôi trao đổi, phối kết hợp với phụ huynh hỗ trợ một số nguyên vật liệu đã qua sử dụng để làm đồ chơi tự tạo và đặc biệt là một số đồ dùng dồ chơi trong lớp như: nắp chai, vỏ chai, nắp bia, hộp dầu gội đầu đã dùng hết, bông… Từ đó tôi đã làm được một số đồ dùng đồ chơi như: xúc xắc, dàn trống… Đơn cử như chiếc xúc xắc mà tôi và trẻ cùng làm từ những chiếc nắp bia, ống nhựa và bông. Tôi dùng chiếc xúc xắc này trong một số hoạt động của trẻ như: Làm dụng cụ âm nhạc, làm đồ dùng tập thể dục buổi sáng, hoạt động thể chất giúp phát triển cơ tay cho trẻ…

Bên cạnh việc xây dựng môi trường lớp học, ngay từ đầu năm tôi mạnh dạn tham mưa với ban giám hiệu nhà trường xây dựng góc chơi giân dan, góc chơi sáng tạo chung ngay dưới sân trường để cho trẻ hoạt động. Phần là trẻ được hoạt động, trải nghiệm ngoài trời sẽ tạo cho trẻ thêm sự hứng thú, kích thích tư duy sáng tạo cho trẻ. Phần là khi trẻ được hoạt động tập thể, không những phát triển mối quan hệ qua lại giữa trẻ và trẻ, giúp chúng thể hiện rõ ý thức làm chủ, độc lập mà còn giúp trẻ sẽ nâng cao được ý thức trách nhiệm của bản thân về việc cất xếp và sử dụng đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định, lấy ở đâu, chỗ nào sẽ cất đúng vào nơi đó đúng mục đích và yêu cầu của hoạt động. Góp phần hình thành kĩ năng lập cho trẻ ngay từ nhỏ mà không tốn nhiều thời gian và công sức, lại  tạo được sự thoải mái, không gò bó đối với trẻ.

4.2. Môi trường tinh thần.

“Môi trường thân thiện, học sinh tích cực”. Theo khẩu hiệu đó, trong các hoạt động ở mọi lúc mọi nơi. Tôi luôn tìm cách tạo ra cho trẻ một bầu không khí vui tươi, lành mạnh, thoải mái giúp trẻ được vui chơi, khám phá đạt hiệu quả cao nhất. Tôi luôn thực hiện tốt mọi chỉ đạo của nhà trường về xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện. Vì vậy trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ tôi không ép buộc, bắt trẻ phải làm một cái gì đó mà trẻ không muốn. Bởi khi đó chắc chắn hiệu quả sẽ không cao, mà nhiều khi lại làm tác dụng ngược. Bên cạnh đó, cách cô trò chuyện với trẻ vui vẻ, ân cần, cách cô giáo dục trẻ nói chuyện với người lớn và bạn bè, cách cô và trẻ cùng chơi cùng tham gia các  hoạt động cũng góp phần không nhỏ tạo nên một môi trường tinh thần thoải mái, hứng thú cho trẻ.

Ví dụ 1:  Trong giờ đón trẻ buổi sáng. Tôi luôn ân cần, niềm nở đón trẻ và chú ý tới tâm lý, sức khỏe cũng như những thay đổi của trẻ. Biết trẻ rất thích được khen nên chỉ đơn giản là: Hôm nay con mặc bộ quần áo này xinh quá, hôm nay mẹ đan tóc cho con gái đẹp quá…cũng giúp cho trẻ có một ngày mới vui vẻ, hứng thú hơn.

Ví dụ 2: Trong các hoạt động góc, trước khi chơi tôi luôn tạo những tình huống, những hoạt cảnh giúp trẻ hứng thú, lôi quấn hơn, trong khi chơi tôi luôn tạo tâm thế thoải mái, giúp trẻ phát huy tính tự chủ, tích cực bằng cách cho trẻ tự chọn, tự thay đổi góc chơi và tự rủ bạn cùng chơi cho mình. Điều đó cũng góp phần không nhỏ tạo cho trẻ thích thú hơn trong khi tham gia hoạt động.

  1. Biện pháp 5. Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh để giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ.

Theo pháp lệnh về bảo vệ trẻ em của nhà nước đã khẳng định: “Mọi trẻ em sinh ra đều được bình đẳng và được hưởng quyền chăm sóc giáo dục của gia đình và cộng động”. Với tinh thần đó việc tuyên truyền, phối kết hợp phụ huynh trong việc chăm sóc giáo dục trẻ là điều cấp thiết. Đặc biệt đối với bậc học mầm non phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Bởi Gia đình, nhà trường, xã hội là 3 yếu tố không thể thiếu. Vì thế muốn cho quá trình giáo dục trẻ được thực hiện liên tục và hiệu quả thì cần thống nhất các nội dung giáo dục. Nhưng với xã hội phát triển hiện nay, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con. Nên việc chiều chuộng, làm thay, làm giúp là không tránh khỏi. Dẫn đến tình trạng trẻ ỷ lại và luôn muốn dựa dẫm vào người khác. Bởi vậy giáo viên chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, ở lớp trẻ phải thực hiện một số kỹ năng tự lập, tự phục vụ theo sự hướng dẫn của cô, còn khi về nhà bố mẹ trẻ lại làm thay làm giúp, vì vậy đòi hỏi phải có sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc thống nhất dạy trẻ các kỹ năng tự phục vụ cần thiết. Từ đó tôi đã đặt ra mục tiêu để việc tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh đạt kết quả cao.

5.1. Tạo niềm tin, sự gắn kết giữa phụ huynh với giáo viên.

Là một giáo viên mầm non, tôi nghĩ nếu muốn tạo ra sự thân thiết, tin tưởng của phụ huynh cũng không phải là điều khó khăn. Bởi đặc thù riêng của trẻ mầm non còn nhỏ nên bố mẹ phải trực tiếp đưa đón con hàng ngày, vì vậy cô giáo và phụ huynh có nhiều cơ hội để trao đổi, gặp gỡ hơn. Việc đầu tiên là tôi tìm hiểu về tâm lý và hoàn cảnh của phụ huynh. Từ đó có cách trao đổi, trò chuyện riêng đối với mỗi cá nhân. Lớp mẫu giáo bé mà tôi đang trực tiếp phụ trách đa số phụ huynh làm nghề nông nên thu nhập đa số là không ổn định. Vì vậy họ phần nào có vẻ e ngại, thu hẹp bản thân mình. Chính vì vậy tôi luôn gặp gỡ, trao đổi một cách cởi mở để nhằm mục đích tạo sự thân thiện với phụ huynh.

Từ đó giữa phụ huynh và tôi mới trao đổi thoải mái, nêu ra quan điểm của mình về trẻ. Bên cạnh đó, trong mọi công việc hàng ngày tôi luôn quan tâm tới trẻ để chiều khi về tôi trao đổi thông tin kịp thời của trẻ cho phụ huynh. Qua đó phụ huynh thấy được sự quan tâm, chăm sóc của cô với trẻ như: ân cần nhắc trẻ cất ba lô, giày dép, trước giờ trả trẻ luôn kiểm tra đồ dùng cuả trẻ đầy đủ, luôn trả trẻ với trang phục, đầu tóc gọn gàng, mặt mũi tay chân sạch sẽ phần nào cho phụ huynh thấy con của họ được chăm sóc chu đáo khi đến trường.

Ngoài ra rất nhiều phụ huynh vì thấy con còn quá nhỏ, lại hay ốm và con ở lớp cả ngày nên rất lo không biết ở lớp cô có quan tâm chăm sóc con kịp thời hay không, nhiều phụ huynh còn chưa thực sự tin tưởng ở cô.

Ví dụ 1: Lớp tôi đầu năm có một vài trường hợp bất kể nóng lạnh bất thường thế nào là cứ gọi điện cho cô mặc ra cởi vào, đeo tất rồi là quàng khăn…Nhưng sau một thời gian ngắn thấy cách chúng tôi nói và chăm sóc các con tận tình chu đáo, họ không còn gọi như trước nữa mà tin tưởng vào giáo viên chúng tôi hơn rất nhiều.

Ví dụ 2: Lớp tôi là 2 trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt, cả 2 bạn đều có bố không may bị tai nạn liệt nửa người. Mọi gánh nặng đè lên vai người mẹ. Tôi đã kịp thời nắm bắt được và quan tâm tới 2 bạn đó nhiều hơn. Tôi đã đến từng nhà gia đình thân quen có con qua lứa tuổi xin quần áo cũ nhưng vẫn sử dụng được, khéo léo tặng cho trẻ giúp trẻ có thêm quần áo mặc. Hàng ngày thì quan tâm hơn, động viên trẻ ăn hết xuất giúp con khỏe mạnh, cho mẹ yên tâm làm việc lo cho gia đình.

Sau khi phụ huynh học sinh tin tưởng và đặt niềm tin vào giáo viên. Họ bắt đầu tham gia vào các hoạt động của lớp như: cùng tham gia tổ chức sinh nhật cho trẻ, cùng tham gia đi dã ngoại với trẻ, cùng giáo viên tuyên truyền tới những phụ huynh khác. Vì vậy sự phối hợp giữa cô giáo và phụ huynh trong việc giáo dục trẻ một số kỹ năng tự lập, tự phục vụ ở lớp đạt kết quả cao.

 

5.2. Phối hợp với phụ huynh để nâng cao tỉ lệ chuyên cần.

Như đã nói trên, phụ huynh lớp tôi đa số làm nghề nông, thu nhập thấp.Vậy nên cứ đến độ nông nhàn họ lại cho con nghỉ ở nhà với suy nghĩ “Trẻ mầm non chưa học mà đến lớp chỉ chơi”. Thời tiết nắng quá, hoặc lạnh quá, hay thay đổi thời tiết là phụ huynh cho con nghỉ ở nhà với bố mẹ vì bố mẹ không đi làm, vì vậy trẻ ở lớp đi học không đều, ảnh hưởng tới việc thực hiện chương trình thời gian biểu, thời khóa biểu hàng ngày ở lớp, cô giáo phải vất vả trong việc dạy bù bài học hôm trẻ nghỉ. Vì thế ngay từ đầu năm học, theo chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã truyền tải tới tất cả phụ huynh về nội dung chương trình học của các con, nhằm mục đích giúp phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của giáo dục mầm non, từ đó sẽ cho con đi học đều, vì biết được các con ở lớp đều được hoạt động theo chương trình giáo dục đã quy định dành riêng cho lứa tuổi mầm non.

Ví dụ: Lớp tôi có trường hợp có trẻ thường xuyên nghỉ học. Một vài lần tôi có trao đổi với phụ huynh ở trường về vấn đề này nhưng chỉ được một thời gian ngắn trẻ lại nghỉ học liên tục. Bởi lo vì nhiều mặt nên tôi đã trực tiếp tới nhà và tìm hiểu được nguyên nhân thì được biết, bố cháu mắt kém nên không dám đi xe vì sợ mất an toàn, mẹ cháu đi làm lại về muộn, về không kịp giờ đón con. Nên thường xuyên cho con nghỉ, biết vậy tôi vận động phụ huynh trong lớp đi qua tuyến đường nhà cháu đó trở về giúp và cộng thêm giáo viên lớp chúng tôi thường xuyên trở con về sau giờ tan trường. Từ đó thấy được sự tận tình của tôi, phụ huynh đã nhiệt tình khắc phục và kết quả là bạn ấy được đi học đều đặn, chỉ khi gia đình thực sự có việc rất bận mới cho con nghỉ học. Vì thế trẻ lớp tôi luôn đi học đều, tỉ lệ chuyên cần luôn đạt ở mức trên 90%.

5.3. Phối hợp với phụ huynh trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.

Sau một thời gian ngắn nhận lớp tôi nhận thấy bên cạnh những phụ huynh luôn muốn con em mình tự lập, tự làm, tự chịu trách nhiệm về việc mình làm thì lại có một bộ phận không nhỏ vô tình mà tạo cho con tính ỷ lại, lười biếng, phụ thuộc vào người khác.Sau khi trao đổi, tìm hiểu một số phụ huynh có con hay ỷ lại tôi hiểu ra nhiều nguyên nhân khác nhau. Nào là quan điểm: “Nhỏ vậy ăn chưa xong làm gì”. Nào là “Làm cái gì cũng hỏng, ở nhà bị đánh suốt”. Rồi thì lại “Anh chị rèn cháu ghê lắm nhưng ông bà cháu chiều lại làm hộ, bất đồng quan điểm”.

Xuất phát từ những điều mà tôi tìm hiểu được, tôi đã lên kế hoạch tuyên truyền cho phụ huynh, phần nào giúp phụ huynh hiểu vì sao lại cần cho trẻ tự lập, tự phục vụ và giáo dục kỹ năng cho trẻ ngay từ nhỏ.

Một là: Thế nào là tự lập, tự phục vụ, tự làm những việc trong khả năng của trẻ, ông bà bố mẹ, cô giáo chỉ là người làm mẫu mà không làm giúp, làm thay trẻ và khi trẻ biết làm rồi thì người lớn chỉ đóng vai trò kiểm tra, động viên và khuyến khích trẻ để trẻ có thêm tính tự lập.

Hai là: Cho phụ huynh quan sát những việc trẻ làm được tại lớp như tự rửa tay, lau mặt, xúc cơm, cất xếp đồ dùng…từ đó có thêm kinh nghiệm giáo dục trẻ tại gia đình.

Với lòng quyết tâm, nhiệt huyết của tôi và các giáo viên cùng lớp cùng với sự phối hợp nhịp nhàng từ phía phụ huynh mà tôi đã thấy sự thay đổi rõ rệt của học sinh lớp tôi. Sự mạnh dạn, tự tin, có trách nhiệm với công việc đã xuất hiện trong đại đa số trẻ lớp tôi.

  1. Biện pháp 6. Lồng ghép giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ vào mọi hoạt động trong ngày.

Việc lồng ghép giáo dục kỹ năng tự lập cho trẻ vào mọi hoạt động trong ngày là vô cùng cần thiết. Bởi mỗi một hoạt động trẻ lại được đón nhận một bài học cho bản thân với nhiều hình thức khác nhau giúp trẻ thêm thích thú mà mục đích chính không hề bị thay đổi.

6.1. Thông qua hoạt động đón – trả trẻ.

Trong một lần khảo sát tôi đã nhận thấy có 28/40 trẻ luôn muốn làm mọi việc trước khi được giao mà không cần quan tâm tới kết quả như thế nào. Tôi đã đặt ra mục tiêu đầu tiên cần làm là không nóng vội, quát mắng trẻ, mà sẽ giúp trẻ, giáo dục trẻ kĩ năng tự lập một cách từ từ nhưng hiệu quả.

Ví dụ: Lớp tôi đầu năm có không ít bạn rất tự giác, tới lớp là cất đồ dùng (ba lô, giày dép, khăn mũ) vào tủ ngay cửa lớp mà không cần nhìn xem ngăn nào của mình mặc dù cô đã hướng dẫn một vài lần. Với quan điểm làm gì cũng phải cần thời gian, tôi vui vẻ, kiên trì sửa sai cho trẻ mà không quên chỉ dẫn tận tình: “Con ơi, ngăn này có kí hiệu chiếc cốc uống nước là của con nhé, từ mai con nhớ để đồ của mình vào”. Sau một thời gian kiên trì như vậy bây giờ trẻ lớp tôi bạn nào cũng biết nơi cất đồ dùng cho riêng mình và không để đồ nhầm vào ngăn của bạn nữa.

Trẻ nhỏ thường rất thích bắt trước, làm theo người lớn. Vì vậy mỗi khi trẻ tới lớp tôi thường chào bố mẹ và trẻ trước, bố mẹ thấy vậy cũng chào cô giáo và nhắc con chào. Lâu dần thành nếp, trẻ cũng tiến bộ hơn nhiều. Cứ tới lớp là chào cô chào bố mẹ ngay. Bởi vậy người lớn đóng vai trò rất quan trọng, làm mẫu, làm gương cho trẻ noi theo và duy trì nề nếp tốt giúp cho những nề nếp đó chở thành những kỹ năng cơ bản không thể thiếu.

6.2. Thông qua hoạt động học:

Đang trên đà thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới với quan điểm: “Lấy trẻ làm trung tâm” hiện nay, thì sự hợp tác giữa cô với trẻ, giữa trẻ với trẻ là vô cùng quan trọng. Nó giúp trẻ tăng mối quan hệ qua lại, ràng buộc từ đó trẻ có trách nhiệm hơn trong công việc, biết chủ động và nâng cao tinh thần.

Ví dụ 1: Trong giờ học tạo hình. Tôi gợi ý cho trẻ muốn rủ bạn nào về nhóm cùng tô màu với mình (Đó là tạo sự liên kết với nhau). Trẻ sẽ chủ động rủ bạn và điều đó đồng nghĩa với việc trẻ phải tự mình thảo luận với bạn về vấn đề mà 2 bạn cùng tham gia, ví như tô màu gì cho bức tranh? Phối màu như thế nào? Sẽ sử dụng chất liệu gì? Tranh này treo góc nào?. Và rồi trẻ sẽ phải tự đi lấy đồ dùng mà mình cần rồi cất nơi mà trẻ đã lấy. Điều đó giúp trẻ thêm tự tin khi giao tiếp, tự chủ trong các mối quan hệ.

Ví dụ 2: Trong một giờ hoạt động âm nhạc. Đã một vài lần thử nghiệm và thấy có một vài bạn không muốn lấy đồ dùng, dụng cụ âm nhạc nhưng vẫn muốn được dùng như các bạn vì bạn tổ trưởng lấy giúp và tất nhiên đã chở thành một thói quen ỷ lại vào người khác. Vào lúc cần sử dụng dụng cụ âm nhạc, tôi nói rất rõ ràng trước lớp “Nếu muốn thể hiện được hay hơn thì mỗi bạn nên tự chọn cho mình dụng cụ riêng sẽ nhịp nhàng và vận động tự tin hơn nhiều”, và nói riêng với cả nhóm bạn ấy một lần nữa. Chỉ bằng những lời động viên, khích lệ ấy mà các bạn đã tự lên lấy. Và sau buổi đó thì mỗi khi cần sử dụng tôi đều “Nhắc khéo”, dần dần nó đã thành thói quen và tôi không cần phải nói tới nữa. Điều tôi muốn nói lên ở đây là kiên trì, nhẹ nhàng và khen ngợi kịp thời sẽ là liều thuốc bổ giúp trẻ nâng cao tính tự lập, thấy được niềm vui khi tự mình phục vụ bản thân mà vẫn vui vẻ làm theo mà không bị ép buộc.

6.3. Thông qua hoạt động vui chơi:

Hoạt động vui chơi là một trong những hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo được người lớn tổ chức, hướng dẫn, nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức, đồng thời nhằm giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ. Trong quá trình chơi trẻ học hỏi được cách ứng sử giao tiếp, yêu thương các bạn trong lớp, trẻ yêu thiên nhiên và thế giới đồ vật. Góp phần hình thành kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ ngay từ những ngày đầu tiên.

Ví dụ 1: Khi trẻ đang chơi trong góc xây dựng, tôi nhập vai chơi nhẹ nhàng sau đó đặt một số câu hỏi gợi ý trẻ như: Nếu muốn xây công viên các bác cần gì? Sẽ xây như thế nào? Nếu thiếu vật liệu thì phải làm sao? Nếu bác thợ cùng xây vác gạch nặng quá các bác phải làm gì? Với những câu hỏi tạo tình huống đó tôi đã giúp trẻ tăng thêm kích thích, tính sáng tạo và tư duy và dần dần trẻ biết mình phải làm gì và giúp đỡ người khác trong trường hợp như thế nào

Ví dụ 2: Với trẻ, góc phân vai là một xã hội thu nhỏ đối, với vai trò tái hiện lại cuộc sống của nguời lớn một cách tổng quát trong hoàn cảnh tưởng tượng vì chơi của trẻ không phải là thật mà là giả vờ nhưng trong cái giả vờ đó lại mang tính rất thật. Trẻ chơi góc phân vai, tôi nhập vai và gợi ý trẻ bằng cách đặt một số câu hỏi, tình huống như: Nếu muốn làm món nem con cần đi mua gì? Món thịt bò nấu với cái gì cho ngon? Và đề nghị trẻ nấu cho các bạn thưởng thức. Hay: Hỏi các bác sĩ: Tôi ốm quá, bác khám cho tôi? Tôi sốt thì phải làm gì? Từ đó trẻ sẽ biết chủ động cho hành vi của mình, tự biết phải làm gì và làm như thế nào. Dần dần cứ như vậy trẻ sẽ tự lập, tự chủ cho hành vi của mình sẽ là nền tảng tốt cho việc rèn kỹ năng tự lập cho trẻ.

Ví dụ 3: Trong giờ hoạt động ngoài trời. Khi tôi tổ chức trò chơi “Chuyền bóng”. Đầu tiên trẻ chưa biết phối hợp với nhau cứ nghĩ rằng mình chuyền xong là xong phần mình mặc dù đã nghe cô phổ biến luật chơi, thấy vậy sau mỗi lần chơi tôi đều nhận xét cụ thể cho từng cá nhân trẻ rồi đến cả đội, rất hay là có một bạn đã thắc mắc con chơi ngoan thế, chuyền bóng không rơi mà lại không chiến thắng, chỉ đợi có thế tôi bắt đầu giải thích cho trẻ biết cần phải phối hợp với nhau, tự mỗi bạn phải làm tốt nhiệm vụ của mình và không ai ỷ lại vào bạn (Vì trẻ nghĩ mình chuyền chậm bạn sẽ chuyền nhanh và vẫn thắng). Sau nhiều lần như thế trẻ lớp tôi đã biết đồng lòng phối hợp, bạn nhanh dục bạn chậm và không còn tình trạng ỷ lại vào nhau nhiều như trước nữa.

6.4. Thông qua hoạt động lao động – vệ sinh:

Ở độ tuổi này trẻ rất thích làm mọi việc mà luôn muốn thể hiện mình bằng mọi công việc mặc dù không cần biết kết quả của nó ra làm sao. Miễn rằng chúng làm xong là cảm thấy mãn nguyện lắm rồi. Nhưng chính người lớn chúng ta cần phải uấn nắn sao cho những hành động, những việc làm của trẻ chở nên có ích và có ý nghĩa.

Giờ ăn – ngủ:

Đối với nhiều trẻ sự rụt rè, e ngại, tự ti trước bạn bè và mọi người là chuyện bình thường. Tôi luôn phải chấp nhận bỏ nhiều thời gian và công sức hơn .Sau mỗi một lần trẻ gặp khó khăn hay thất bại nào đó trong mọi vấn đề thì những lời động viên và sự phân tích rõ ràng cho trẻ hiểu tại sao lại như thế? Vì sao trẻ chưa làm được là điều không thể thiếu. Từ đó trẻ sẽ dần dần hiểu và khắc phục được nhược điểm của mình và sẽ không còn thấy tự ti về bản thân mình nữa.

Ví dụ 1: Trẻ rất muốn lên trực nhật cùng các bạn là bê cơm, lau bàn giúp cô nhưng chỉ một lần làm rơi cơm mà trẻ ấy không dám lên làm nữa vì sợ lại làm đổ. Tôi đã vui vẻ mời trẻ lên trực nhật và hướng dẫn tận tình mọi thao tác cho trẻ chậm dãi, giúp trẻ hiểu vấn đề và động viên trẻ. Sau vài lần như vậy trẻ tự tin vào bản thân mình trước cô và các bạn. Và tôi tin rằng từ nay trẻ lớp tôi tự tin vào mình, vào công việc mình đã được làm mà không sợ gặp phải tình trạng rụt rè, sợ hãi nữa và quan trọng hơn là trẻ biết tự lập, tự phục vụ  và chuẩn bị bữa ăn cho mình và cho bạn.

Ví dụ 2: Trong giờ chuẩn bị ngủ, mới đầu tôi chuẩn bị hết cho trẻ ngủ và cho trẻ đứng xem với mục đích cho trẻ nhìn và biết được các thao tác của cô, dần dần tôi cho trẻ thử làm, tập làm và rồi đó chở thành việc làm thường xuyên với mỗi nhóm trực nhật, giúp giáo dục trẻ có kỹ năng tự lập và tự phục vụ bản thân mình và mọi người thân xung quanh.

Giờ lau mặt, rửa tay:

Vì lớp tôi đã số trẻ mới đi học, nên mọi thao tác vệ sinh của trẻ vẫn còn rất vụng về và mang tính chất nhanh ẩu. Chính vì thế ngay từ đầu năm tôi đã chú trọng đến việc rèn trẻ các thao tác vệ sinh cá nhân như rửa tay, lau mặt…vào mọi lúc mọi nơi.

Hay những giờ lao động tôi cho trẻ xuống sân trường, cho trẻ đeo bao tay và cho trẻ thử đoán xem hôm nay chúng ta sẽ làm gì. Chỉ một số bạn nói rằng sẽ nhặt rác trong sân mà thôi, trước khi nhặt tôi giải thích cho trẻ biết việc làm đó có ích như thế nào và vì sao lại làm như thế. Sau nhiều giờ hoạt động như vậy tôi thấy trẻ lớp tôi hăng hái hơn và có ý thức bảo vệ môi trường hơn rất nhiều.

Giáo dục tính tự lập, tụ phục vụ cho trẻ mầm non là vô cùng quan trọng. Việc lồng ghép vào các hoạt động trong ngày cần linh hoạt, sáng tạo. Mỗi một hoạt động lại giúp trẻ tiếp thu, lĩnh hội ở những khía cạnh khác nhau. Nhưng mục đích của nó là không hề thay đổi đó là giúp trẻ có thói quen tự lập ngay từ khi còn trong lứa tuổi mầm non, là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho tương lai trẻ sau này.

  1. Biện pháp 7. Giáo dục kỹ năng tự lập trong các hoạt động khác.

7.1. Trong các hoạt động ngoại khóa.

Bên cạnh tất cả các hoạt động trong ngày, thì hoạt động ngoại khóa cũng góp phần không nhỏ trong việc giáo dục kỹ năng tự lập, tự phục vụ cho trẻ. Bởi hoạt động ngoại khóa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Nó giúp trẻ có cơ hội khẳng định và thể hiện bản thân, giúp trẻ phần nào nhìn nhận được điểm mạnh và điểm yếu của mình.

Ví dụ 1: Tôi đã tổ chức cho trẻ đi tham quan di tích lịch sử trên địa bàn xã, khi tới nơi, có một số trẻ cũng nói chuyện, xô đẩy vì ai cũng muốn lên trước, nhưng bên cạnh đó một số nhiều bạn lại giữ trật tự, và có thái độ rất trang nghiêm làm cho những bạn khác cũng làm theo.

Ví dụ 2: Tôi lên kế hoạch thường xuyên cho trẻ tham gia hoạt động giao lưu với các lớp không chỉ cùng độ tuổi mà còn khác độ tuổi. Qua đó giáo dục cho trẻ khả năng tự tin và chủ động trong hành vi của mình.

Để thấy được rằng việc cho trẻ đi thực hành ngoại khóa là rất bổ ích. Trẻ được học hỏi, được giao lưu và có thêm kinh nghiệm cho bản thân mình.

7.2. Động viên khen ngợi việc làm của trẻ:

Để việc khen ngợi, động viên trẻ đạt được kết quả cao hơn, tôi thiết nghĩ cần phải được khen ngợi bằng nhiều hình thức khác nhau.

 * Khen ngợi thông qua lời nói: Việc khen ngợi cần được xem như một hành động công nhận trẻ đã hoàn thành một công việc nào đó, ở bất cứ một mức độ nào (Sơ sài, bình thường hay hoàn chỉnh). Chính vì vậy cần đưa ra lời khen ngợi bằng sự nhận xét tích cực sau mỗi việc mà trẻ đã làm, cần hạn chế khen ngợi quá mức với những việc đơn giản, điều đó sẽ làm tác dụng của việc khen ngợi bị đảo ngược lại.

Ví dụ: Lớp tôi có một số bạn rất thích được xếp cất ba lô, giày dép, gối… vào đúng nơi quy định. Tôi đã luôn khen ngợi trẻ trực tiếp một cách tích cực nhưng không quá nâng cao trẻ như: Cảm ơn con vì đã lau bàn giúp cô. Lớp sạch sẽ hơn là nhờ con vứt rác đúng nơi quy định đấy. Bàn ghế sạch sẽ hơn là nhờ nhóm các con hôm nay trực nhật đấy. Tủ gối của cô hôm nay rất gọn gàng, các con rất giỏi…

 * Khen ngợi thông qua hành động: Một đứa trẻ khi được khen sẽ rất thích thú và làm tăng khả năng tư duy của trẻ, giúp trẻ phấn khích hơn trong những hoạt động tiếp theo. Tuy nhiên nếu chỉ khen ngợi bằng lời mãi thì có lẽ hiệu quả đạt được sẽ không cao. Mà khen ngợi bằng hành động sẽ làm cho trẻ tích cực hơn nhiều.

Ví dụ 1: Trẻ mẫu giáo nói chung và ở độ tuổi mẫu giáo bé nói riêng đều rất thích chơi với đồ chơi ngoài trời. Và trẻ lớp tôi cũng vậy, nên trước các hoạt động tôi thường khích lệ trẻ như: Hôm nay chúng mình học vẽ những bông hoa, các con hãy vẽ thật đẹp, tô màu không bị trờm ra ngoài, cầm bút tay phải và ngồi ngay ngắn, bạn nào vẽ giỏi cô sẽ thưởng cho chúng mình đi chơi cầu trượt.

Nâng cao sự hứng khởi cho trẻ, giúp trẻ có thêm động lực trong mọi hoạt động. Thì việc cắm cờ, nêu gương bé ngoan sau mỗi một ngày là hoạt động vô cùng cần thiết. Nó giúp trẻ nhận ra mình đã làm được gì, đã ngoan hay chưa và có thêm trách nhiệm với việc mình đã làm. Từ đó tính tự lập của trẻ cũng phát triển hơn bởi trẻ nghĩ mình cố gắng làm thật tốt để cô và các bạn khen.

Ví dụ 2: Lớp tôi có bạn chỉ đạt mức trung bình trong hầu hết trong mọi hoạt động. Tôi luôn giao việc trực tiếp cho trẻ và sau mỗi lần trẻ làm được hay không làm được tôi đều dành những lời khen cho những hành động đó. Nhưng không chỉ là khen với riêng trẻ mà tôi còn tuyên dương trẻ trước tập thể lớp như: Hôm nay bạn ấy rất giỏi đã hoàn thành nhiệm vụ cô giao rất tốt, bạn ấy rất đáng khen.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

goi-ngay-gia-tot