Biện pháp giúp học sinh học tốt TN-XH lớp 1

Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, do vậy người giáo viên phải có sự lựa chọn kết hợp các phương pháp phù hợp với đặc trưng của từng môn học, đặc biệt là môn Tự nhiên và Xã hội. Bên cạnh đó người giáo viên cần căn cứ vào hoàn cảnh, tình hình cụ thể của lớp học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh để thay đổi hình thức học tập, tạo hứng thú cho học sinh. Nhằm giúp học sinh tìm ra kiến thức bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất. Do vậy giáo viên cần nắm vững và sử dụng thành thạo các phương pháp dạy học theo hướng đổi mới kế thừa những phương pháp truyền thống, sử dụng đa dạng các hình thức học tập để tiết dạy diễn ra một cách nhẹ nhàng, tự nhiên và có hiệu quả.
1. Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
– Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những giác quan để nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả suy nghĩ và kết quả được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ.
– Nói cách khác “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được tổ chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học. Trên cơ sở vận dụng tất cả các giác quan, kinh nghiệm, tri thức cũ của mình và tham gia làm thực nghiệm khoa học.
– Như vậy, phương pháp “Bàn tay nặn bột” đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn. Các em học tập nhờ hành động, cuốn hút mình trong hành động. Các em sẽ tiến bộ dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn. Trình bày quan điểm của mình đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ra môi trường học tập tích cực.
– Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng. Đó là những hiểu biết ban đầu của học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng, chưa đầy đủ, hoặc có thể sai, đôi khi là ngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ. Khi học sinh đưa ra biểu tượng ban đầu của mình về vấn đề đặt ra, giáo viên không đưa ra lời nhận xét đúng, sai mà để các em tự nhận thấy được trong quá trình kiểm tra giả thuyết.
Trong quá trình sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” để thực sự có hiệu quả đòi hỏi người giáo viên và học sinh cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
– Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi, dễ cảm nhận và tiến hành thực nghiệm về chúng.
– Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra các lý lẽ, thảo luận những ý nghĩ và các kết quả đạt được trên cơ sở xây dựng kiến thức cho mình. Một hoạt động mà hoàn toàn chỉ dựa trên sách vở là không đủ.
– Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức trong các giờ học nhằm đến một sự tiến bộ trong học tập. Các hoạt động này gắn với chương trình và dành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh.
– Mỗi học sinh có một quyển vở ghi chép thí nghiệm và các em trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình.
– Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết.
* Tuy nhiên với học sinh lớp 1, các em chưa được học hết các vần, từ trong Tiếng Việt nên chưa thể tự viết được các suy nghĩ của mình, giáo viên cần tổ chức cho học sinh trình bày miệng hoặc vẽ ra giấy những hiểu biết ban đầu của mình về sự vật, hiện tượng cần tìm hiểu.
Trên thực tế, phương pháp “Bàn tay nặn bột” không hoàn toàn là mới đối với các giáo viên. Về cơ bản, đây là phương pháp tổng hợp các phương pháp dạy học trước đây mà giáo viên đã từng tiếp xúc như: phương pháp giảng dạy giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học tích cực… Nhưng dạy học theo phương pháp này cần có nhiều thời gian hơn cho một tiết học. Vì vậy, giáo viên cần xây dựng một chương trình và sắp xếp vào buổi học thứ hai trong ngày. Hoặc chỉ sử dụng phương pháp này trong một hoạt động của tiết dạy.
VD1: Bài 25: Con cá (TN – XH lớp 1. Trang 49)
Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột ở hoạt động 1:
Các bộ phận bên ngoài của con cá.
– Học sinh được tự hình dung để vẽ con cá với các bộ phận bên ngoài của nó vào giấy hoặc bảng nhóm.
– Cá nhân hoặc đại diện nhóm lên trình bày những bộ phận của con cá mà em hoặc các bạn vẽ được.
– Học sinh sẽ đề xuất phương án kiểm tra bằng nhiểu cách và cùng thống nhất một cách tốt nhất (Ví dụ: quan sát con cá thật). Qua đó các em sẽ kiểm chứng được kết quả hình dung của mình đã đúng và đầy đủ chưa và sửa chữa vào cuối tiết học.

VD2: Bài 28: Con muỗi (TN – XH lớp 1. Trang 58)
Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột ở hoạt động 1:
Nơi sống, tập tính, tác hại của con muỗi
– Học sinh sẽ thảo luận và ghi những hiểu biết của mình về nơi sống, tập tính và tác hại của con muỗi vào bảng nhóm rồi cử đại diện lên trình bày.
– Giáo viên sẽ lắng nghe và sau khi giảng bài xong cho các em kiểm chứng để thấy những hiểu biết của mình đã đúng chưa và từ đó tự sửa chữa.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một trong những phương pháp dạy học tiên tiến. Phương pháp này giúp cho trẻ em tự phát hiện được vấn đề, có nghĩa là nhu cầu học sẽ có thể xuất phát từ chính các em, có thể sáng tạo trong hiện tại và trong tương lai. Phương pháp này phù hợp với đặc điểm tâm lí, đặc điểm nhận thức của lứa tuổi Tiểu học. Giúp học sinh hứng thú học tập và tiếp thu tốt kiến thức của môn học.
2. Phương pháp “Quan sát”
– Phương pháp quan sát là hình thức dạy học GV hướng dẫn học sinh cách sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các đối tượng trong Tự nhiên- xã hội, nhằm tiếp nhận thông tin mà không có sự can thiệp vào quá trình diễn biến của các sự vật, hiện tượng đó.
– Phương pháp quan sát được sử dụng phổ biến trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội.
– Quá trình quan sát giúp học sinh nhận biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của cơ thể người, cây cối, một số con vật và các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày.
– Sử dụng phương pháp quan sát tạo được hứng thú học tập cho học sinh, phù hợp quá trình nhận thức học sinh tiểu học.
– Dạy học sử dụng phương pháp quan sát giúp giáo viên tiết kiệm lời giảng kèm theo ví dụ minh họa làm cho bài giảng sinh động, cụ thể, hấp dẫn.
– Phương pháp quan sát dễ kết hợp các phương pháp khác như phương pháp phân tích giảng giải, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm thoại,…làm cho bài giảng không nhàm chán.
– Tuy nhiên sử dụng phương pháp quan sát đòi hỏi cao sự kết hợp khéo léo với các phương pháp và giáo viên phải quản lý tốt lớp học.
Tiến trình tổ chức quan sát
* Bước 1: Xác định mục đích quan sát
Trong một bài học, không phải mọi kiến thức cần lĩnh hội đều được rút ra từ quan sát. Vì vậy, giáo viên cần xác định rõ việc tổ chức cho học sinh quan sát nhằm đạt mục tiêu, kiến thức, kỹ năng nào?
* Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát
Khi đã xác định được đối tượng quan sát, tuy theo từng nội dung học tập mà giáo viên lựa chọn đối tượng quan sát phù hợp trình độ học sinh và điều kiện của địa phương.
Đối tượng quan sát có thể là các sự vật hiện tượng, các mối quan hệ đang diễn ra trong môi trường tự nhiên – xã hội hoặc các tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, sơ đồ, …. Diễn tả các sự vật hiện tượng đó. Khi lựa chọn đối tượng quan sát giáo viên nên ưu tiên lựa chọn các vật thật để giúp học sinh hình thành biểu tượng sinh động.
VD1: Bài 23: Cây hoa ( TN-XH lớp 1. Trang 45 )
Đối tượng quan sát là các cây hoa trong vườn trường và cây hoa học sinh mang đến lớp.
VD2: Bài 25: Con cá (TN – XH lớp 1. Trang 49)
Đối tượng quan sát là con cá thật học sinh hoặc giáo viên chuẩn bị. Ngoài ra còn quan sát tranh, ảnh con cá. Video con cá bơi và thở.
VD3: Bài 3 : Nhận biết các vật xung quanh ( TN-XH lớp 1. trang 8 )
Đối tượng quan sát là các đồ vật trong lớp học.
Khi không có điều kiện quan sát trực tiếp các sự vật – hiện tượng có thể tổ chức cho học sinh quan sát qua tranh ảnh, mô hình, …
VD4: Bài 20: An toàn trên đường đi học ( TN-XH lớp 1. Trang 42)
Đối tượng quan sát: Tranh ảnh chụp hoặc vẽ các cảnh trên đường đi học có thể gây nguy hiểm hoặc cách tham gia giao thông an toàn được phóng to.
Đối tượng của môn Tự nhiên và Xã hội rất đa dạng, phong phú và gần gũi với học sinh. Vì vậy, bên cạnh tranh ảnh, mẫu vật, mô hình, …. Giáo viên cần sử dụng khung cảnh thiên nhiên xung quanh gia đình, trường học và các hoạt động sống ở địa phương để tạo cơ hội cho các em được quan sát trực tiếp.
VD: Bài 18, 19: Cuộc sống xung quanh ( TN-XH lớp 1. Trang 38)
Tổ chức cho học sinh quan sát cuộc sống ở địa phương vào buổi sáng hoặc buổi chiều.
* Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh quan sát theo các nhân, theo nhóm hoặc cả lớp, điều này phụ thuộc vào số đồ dùng chuẩn bị được và khả năng quản lý của giáo viên cũng như khả năng tự quản, hợp tác nhóm của học sinh.
Tuỳ theo mục đích và đối tượng quan sát, giáo viên hướng dẫn cho các em sử dụng các giác quan để phán đoán, cảm nhận sự vật hiện tượng (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi…) thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập. Hệ thống câu hỏi, bài tập được xây dựng dựa trên mục đích quan sát và trình độ hiểu biết của học sinh nhằm: Hướng học sinh đến đối tượng quan sát
VD1: Bài 22: Cây rau (TN-XH lớp 1. Trang 45)
Giáo viên hướng học sinh hướng đến đối tượng quan sát thông qua các câu hỏi: +Tên cây rau?
+Nó được trồng ở đâu?
+ Chỉ ra các bộ phận : rể, thân, lá, …
+ Bộ phận nào ăn được?
VD2: Bài 25: Con cá (TN – XH lớp 1. Trang 49)
+ Chỉ và nói tên các bộ phận bên ngoài của con cá?
+ Cá dùng bộ phận nào để bơi?
+ Miệng và mang cá thường làm động tác gì?
VD3: Bài 2: Chúng ta đang lớn (TN-XH lớp 1. Trang 6)
Qua việc quan sát các bức tranh trong sách giáo khoa, học sinh biết được cơ thể chúng ta đang thay đổi như thế nào qua thời gian (chiều cao, cân nặng, sự hiểu biết, ….) cùng với việc nhìn lại quá trình phát triển của chính cơ thể các em và các bạn trong lớp. Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi:
+ Làm thế nào để biết cơ thể chúng ta đang lớn?
+ Các em thấy sự lớn lên của mỗi người có giống nhau không?
+ Vì sao lại như thế?
+ Làm thế nào để lớn nhanh?
Từ đó điều khiển tri giác và hướng dẫn tư duy học sinh theo hướng quan sát cần thiết. Giúp học sinh phân tích, tổng hợp, khái quát những điều đã quan sát, liên hệ với các đối tượng mà các em đã nhìn thấy rồi rút ra kết luận khách quan, khoa học.

* Bước 4: Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả về đối tượng được quan sát

Sau khi quan sát, thu thập thông tin, học sinh xử lý các thông tin thông qua hoạt động (phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, nhận xét, …) để rút ra kết luận khoa học về các đối tượng.
Hình thức báo cáo có thể bằng lời, phiếu học tập, hay phương tiện dạy học. Giáo viên tổ chức cho học sinh hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng và bổ sung các kiến thức cần thiết.
VD: Bài 29: Nhận biết cây cối và con vật (TN-XH lớp 1. Trang 60)
Sau khi quan sát cây cối trong vườn trường và các con vật, học sinh sẽ có các thông tin: Các loại cây rau, cây hoa, cây gỗ, … với những đặc điểm phân biệt và nhận diện chúng. Biết các con vật: cá, mèo, gà, muỗi, dán, ….với đặc điểm về kích thước và hình dáng.
Qua phân tích, so sánh học sinh rút ra kết luận:
* Cây cối có nhiều loại như: Cây rau, cây hoa, cây gỗ, … Các loại cây này có thể khác nhau về hình dạng, kích thước, nhưng chúng đều có rễ, thân, lá.
* Có nhiều loại động vật, chúng khác nhau về hình dạng, khích thước, môi trường sống … nhưng chúng đều có đầu, mình và cơ quan di chuyển. Có động vật có ích và động vật có hại.
Giáo viên cần lưu ý để sử dụng phương pháp quan sát đúng lúc, đúng chỗ sẽ phát huy được hiệu quả tốt nhất và giúp học sinh tiếp thu bài học một cách chủ động nhất.
3. Phương pháp trò chơi học tập:
– Trò chơi học tập là một trong những phương pháp dạy học được sử dụng trong môn Tự nhiên và xã hội ở bậc Tiểu học. Đối với học sinh lớp một với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em thì trò chơi học tập là một trong những phương pháp rất quan trọng giúp các em chiếm lĩnh được kiến thức mới.
– Vì vậy, có thể nói rằng trò chơi học tập có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh. Trong các tiết học môn Tự nhiên và xã hội, việc tổ chức cho học sinh chơi vào bất kỳ phần nào của bài học đều rất quan trọng. vì chơi trò chơi làm thay đổi hình thức học tập, làm cho lớp học thoải mái và dễ chịu hơn. Lúc đó quá trình học tập trở thành một hình thức vui chơi hấp dẫn làm cho học sinh thấy vui, nhanh nhẹn và cởi mở hơn. Từ đó học sinh tiếp thu tự giác, tích cực hơn và được củng cố hệ thống hóa kiến thức.
+ Ví dụ 1: Đối với chủ đề : “Con người và sức khỏe”.
Bài 1: Cơ thể chúng ta:
Chuẩn bị: Trước hết phải suy nghĩ và đưa trò chơi vào hoạt động 1 của bài. Cần chuẩn bị trước tranh vẽ 2 học sinh ở trang 4 SGK Tự nhiên và xã hội.
Cách tiến hành:
– Trước hết treo tranh và nêu tên trò chơi: Ai nhanh hơn.
– Giáo viên phổ biến cách chơi cho học sinh: chia lớp làm 3 nhóm mỗi nhóm thảo luận và suy nghĩ cử ra một bạn đại diện nhóm lên chơi.
– Phổ biến luật chơi: Nếu em nào trong 1 phút kể ra được đúng và nhiều tên của các bộ phận trên cơ thể là người thắng cuộc.
– Từng học sinh được cử lần lượt lên bảng vừa chỉ vào hình và nói tên các bộ phận của cơ thể. Kết thúc trò chơi giáo viên tuyên dương nhóm có bạn thắng cuộc. Nếu học sinh chưa nêu hết các bộ phận trên cơ thể giáo viên bổ sung thêm.
+ Ví dụ 2: Đối với chủ đề “Xã Hội” Bài 12: Nhà ở.
Chuẩn bị: Suy nghĩ và đưa trò chơi vào hoạt động 2 của bài. Các tranh hoặc ảnh chụp về các đồ dùng trong gia đình: Bàn, ghế, giường, tủ…
Cách tiến hành :
– Giáo viên nêu tên trò chơi: Dùng làm gì.
– Chia lớp làm 2 đội. Mỗi đội chọn ra 5 người chơi và xắp xếp theo hàng dọc quay lên bảng, các em còn lại là cổ động viên cho đội mình.
– Yêu cầu 2 đội cùng nhìn vào 1 bức tranh trên màn hình, lần lượt từng học sinh của mỗi đội phải chỉ vào hình, nêu tên gọi và chức năng của 1 đồ dùng có trong tranh.
– Lưu ý: các em nói sau không được nói lại đồ dùng mà các bạn đã nói. Khi học sinh nói đúng tên và công dụng của 1 hình thì được 1 điểm.
– HS bắt đầu chơi, cho học sinh “oẳn tù tì…” để chọn đội đi trước.
– Kết thúc trò chơi tuyên dương đội nào ghi được điểm nhiều hơn là đội thắng cuộc.
+ Ví dụ 3: Đối với chủ đề “Tự nhiên”, Bài 23: Cây rau.
Chuẩn bị: Đưa trò chơi vào HĐ3 của bài, chuẩn bị 6 chiếc khăn sạch, một số cây rau: rau cải, rau ngót, rau muống, rau mồng tơi…
Cách tiến hành:
– Nêu tên trò chơi: Đố bạn rau gì?
– Giáo viên chia lớp làm 6 nhóm.Yêu cầu mỗi nhóm cử ra một bạn lên chơi đoán xem đó là cây rau gì.
– Cho các em tham gia chơi xếp thành hàng ngang trước lớp.
Sau đó đưa cho mỗi em 1 chiếc khăn để bịt mắt và đưa cho mỗi bạn một loại cây rau, yêu cầu các em dùng tay sờ và có thể ngắt lá để ngửi, đoán xem đó là rau gì. Ai đoán nhanh và đúng là người thắng cuộc.
+ Ví dụ 4: Trong chủ đề “Tự nhiên”, Bài 25: Con cá
Chuẩn bị: Đưa trò chơi vào phần củng cố cuối bài, khi sử dụng giáo án trình chiếu sẽ có các hộp bí mật. Mỗi hộp sẽ có các câu hỏi về tên các loài cá…
Cách tiến hành:
– Nêu tên trò chơi: Giải cứu nàng tiên cá.
– Hướng dẫn chơi: Muốn giải cứu nàng tiên cá thì học sinh cần mở những chiếc hộp và trả lời câu hỏi về các loài cá . Khi mở đến chiếc hộp cuối cùng thì nàng tiên cá sẽ được thả.
– Từng học sinh xung phong mở hộp bí mật và trả lời câu hỏi trong mỗi chiếc hộp. Nếu trả lời đúng câu hỏi thì chiếc hộp sẽ biến mất. Học sinh khác mở hộp tiếp theo đến hộp cuối cùng thì trò chơi kết thúc.
– Nhận xét và khen ngợi cả lớp.
Qua trò chơi không những tạo được không khí hứng thú, sôi nổi trong giờ học mà học sinh còn tiếp thu, củng cố được những kiến thức và khắc sâu nội dung bài học.
4. Phương pháp hỏi đáp:
– Là phương pháp trong đó việc đối thoại giữa giáo viên và học sinh được tiến hành trên cơ sở hệ thống câu hỏi nhằm tìm ra những kiến thức.
– Nó có tác dụng tốt đối với việc huy động vốn tri thức và kinh nghiệm đã có ở học sinh vào việc tìm tòi kiến thức mới, đồng thời khơi dậy ở học sinh tính tích cực suy nghĩ.
– Đối với môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 phương pháp hỏi đáp cũng là phương pháp giúp cho học sinh có hứng thú trong việc học tập. Thông qua câu hỏi của giáo viên, học sinh suy nghĩ tìm tòi và trả lời cũng đã giúp cho các em bước đầu hình thành tư duy trừu tượng.
– VD1: Khi dạy bài “Con cá”.
Tôi đưa ra một số câu hỏi gợi ý cho các em trình bày:
+ Cá sống ở đâu?
+ Hãy kể tên các loại cá mà con biết?
+ Hãy nói tên các bộ phận của cá?
+ Con thích những món ăn nào được chế biến từ cá?…
– VD2. bài 12: Nhà ở (trang 26).
+ Hãy kể về nhà ở của con?
+ Trong nhà con có những đồ dùng gì?
+ Con đã làm gì để nhà mình sạch sẽ, gọn gàng? …
Khi nghe học sinh trả lời các câu hỏi, giáo viên sẽ sửa cho học sinh không những về kiến thức của môn Tự nhiên và Xã hội, mà con sửa cho học sinh cách trả lời thành câu, cách dùng từ ngữ cho đúng nghĩa…Từ đó giúp học sinh càng hoàn thiện hơn.
5. Phương pháp thảo luận nhóm
Đây cũng là phương pháp quan trọng giúp các em học tập tốt. Bởi vì: hoạt động nhóm giúp cho học sinh tự tin, có nhiều cơ hội khám phá, diễn đạt ý tưởng của mình cho các bạn trong nhóm. Từ hoạt động nhóm HS có thể hỏi lẫn nhau điều đó giúp cho các em phát triển kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên cần chú trọng đến cách chia nhóm. Giáo viên cần thường xuyên thay đổi cách chia nhóm. (Nhóm đôi, nhóm 4, hoặc nhóm 6). Trong mỗi nhóm cần có đủ các đối tượng học sinh đề các em giúp đỡ lẫn nhau. Trong quá trình hoạt động nhóm, giáo viên cần theo dõi và hỗ trợ các em kịp thời.
VD1: Bài 18, 19: Cuộc sống xung quanh ( TN-XH lớp 1. Trang 38)
– Học sinh thảo luận nhóm đôi:
Kể về cuộc sống xung quanh nơi em sinh sống?
– Mỗi học sinh trong nhóm sẽ có ý kiến về việc làm, đời sống sinh hoạt của người dân nơi các em sinh sống.
– Giáo viên bao quát thấy em nào chưa nêu được ý kiến riêng thì có thể đến giúp đỡ, gợi ý bằng các câu hỏi phụ.
– Nhóm trưởng tổng hợp và lên trình bày kết quả thảo luận.
VD2: Bài 25: Con cá (TN – XH lớp 1. Trang 49)
– Học sinh được thảo luận nhóm 4: Nêu các ích lợi của cá?
– Các em trong nhóm đều được đưa ra những ý kiến riêng của mình về ích lợi của con cá.
– Khi nhóm trưởng tổng hợp, trình bày trước lớp, giáo viên sẽ lắng nghe và tổng hợp bằng cách cho học sinh xem video có hình ảnh và thuyết minh về lợi ích của con cá. Học sinh sẽ tự bổ sung vào kiến thức của mình những hiểu biết trong tự nhiên và xã hội.
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác trong một hoạt động hoặc trong một bài học, làm cho hình thức học tập thêm phong phú. Giúp học sinh được chủ động, sáng tạo và tiếp thu kiến thức tích cực hơn và thu được kết quả tốt nhất.

III. SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC
Việc sử dụng đồ dùng dạy học là rất quan trọng đối với tất cả các môn học. Đồ dùng dạy học góp phần quyết định thành công cho một tiết dạy. Vì vậy trước hết người giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng phục vụ cho tiết dạy của mình. Giáo viên cần có phương pháp sử dụng thích hợp với mỗi loại thiết bị dạy học. Sử dụng thiết bị dạy học như một nguồn cung cấp kiến thức chứ không phải để minh họa cho bài học, làm đẹp cho giờ học. Ngày nay việc đưa công nghệ thông tin vào giảng dạy là thuận lợi lớn cho mỗi tiết dạy. Vì vậy để làm được những tiết giáo án điện tử thành công, người giáo viên cần tìm tòi, sáng tạo, sưu tầm tranh ảnh trong thực tế để đưa vào bài giảng những hình ảnh đẹp nhất.
Khi sử dụng đồ dùng dạy học cần lưu ý một số điểm sau:
– Lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài học.
– Cần nghiên cứu, sử dụng thành thạo các loại đồ dùng.
– Lựa chọn đúng thời điểm phù hợp để đưa ra từng loại đồ dùng.
– Cần huy động tối đa những đồ dùng học tập học sinh có thể chuẩn bị được để phục vụ cho các hoạt động tập thể như tranh ảnh, vật thật.
– Học sinh cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng học tập mà giáo viên đã giao cho để tham gia xây dựng bài học một cách hiệu quả.
VD: Bài Cây rau (TN và XH lớp 1 – trang 45)
Để tìm hiểu cây sống ở đâu?
Cây rau thật rất dễ kiếm nên Học sinh chuẩn bị cây rau nhiều loại với nơi sống khác nhau (trên cạn, dưới nước…) Giáo viên ngoài việc chuẩn bị cây rau thật, còn có các hình ảnh cây rau đa dạng khi sử dụng công nghệ thông tin, từ đó sẽ dễ dàng cho việc tìm hiểu kiến thức.
Hoặc bài : Con cá (TN và XH lớp 1 – trang 52)
Để tìm hiểu tên các loài cá và nơi sống của chúng?
Học sinh chuẩn bị con cá thật với nhiều loại khác nhau và tranh ảnh về các loài cá ở môi trường sống khác nhau.
Giáo viên nhờ có công nghệ thông tin đưa hình ảnh các loài cá đa dạng về màu sắc, hình dáng kích thước và đa dạng về nơi sống sẽ làm tiết học phong phú và tạo hứng thú học tập cho các em.

IV. PHỐI HỢP VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC
Trong trường Tiểu học các môn học có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, môn nọ là nền tảng để học tốt môn kia. Môn Tự nhiên và Xã hội là tư liệu phục vụ cho bài học, chúng là thực tế về Tự nhiên Xã hội và con người quanh các em. Vì vậy trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải tích hợp các kiến thức của môn học liên quan như: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội… để giúp học sinh có thêm kiến thức thu nhập thực tế vận dụng vào bài học.
VD: Trong môn Đạo đức các em được học bài 4: “Gia đình em”, các em đã biết được các thành viên trong gia đình. Biết được sự quan tâm của mọi người trong gia đình với nhau
Khi học Tự nhiên Xã hội bài 11 “Gia đình”, học sinh sẽ vận dụng kiến thức về gia đình đã học trong môn Đạo đức để trả lời câu hỏi: Hãy kể về những người trong gia đình bạn? Từ đó học sinh sẽ liên hệ sự quan tâm của các thành viên trong mình.
Đến bài 13: Công việc ở nhà, học sinh sẽ dễ dàng nêu được các việc làm của mỗi thành viên trong gia đình để giúp đỡ nhau, biết liên hệ để giúp đỡ bố mẹ những công việc vừa sức…
– Hoặc trong Môn Học vần khi học từ “cá ngừ”, giáo viên đưa tranh, giảng từ và cho học sinh biết cá ngừ là cá nước mặn sống ở biển.
học từ “Vó bè” giáo viên đã giảng về cách bắt cá bằng vó bè…
Đến khi học bài Con cá (TN và XH lớp 1 – trang 52) học sinh sẽ vận dụng những kiến thức đó để thi kể tên các loài cá, nơi sống của chúng và cách đánh bắt cá…
Tóm lại, nhờ phối hợp tốt Tự nhiên Xã hội với các môn học khác mà đã bổ sung kiến thức cho học sinh trong quá trình học tập. Học sinh tích cực học tập hơn, có nhiều hứng thú say mê khám phá kiến thức của bài học.

V. TĂNG CƯỜNG BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC THỰC TẾ CHO GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
Tự nhiên và Xã hội là môn học mang trong mình nhiều kiến thức thực tế hết sức phong phú và gần gũi với thế giới Tự nhiên, xã hội và con người. Vì vậy tăng cường bồi dưỡng vốn kiến thức thực tế cho giáo viên, học sinh là việc làm quan trọng đóng góp vào thành công trong công việc đổi mới phương pháp dạy học để có kết quả học tập tốt trong môn Tự nhiên và Xã hội nói riêng và các môn học khác nói chung.
* Đối với giáo viên: Thực tế cuộc sống rất phong phú, đòi hỏi mỗi người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi và bồi dưỡng vốn hiểu biết cho bản thân. Hành trang kiến thức của giáo viên cần được cập nhật và hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội. Hiện nay, có rất nhiều nguồn kiến thức mà chúng ta có thể học hỏi như trên sách báo, tạp trí, trên mạng Internet…, Ngoài ra mỗi giáo viên cần học hỏi ở đồng nghiệp, ở mọi người xung quanh. Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức cho các tổ khối chuyên môn sinh hoạt theo định kỳ để giáo viên cùng nghiên cứu các bài khó, tiết khó. Từ đó giáo viên tự đúc kết cho mình những kiến thức trong giảng dạy.
* Đối với học sinh: Cần tạo cho học sinh thói quen quan sát thế giới xung quanh như: Tổ chức các buổi học ngoại khóa. Tổ chức cho các em đi tham quan những di tích và những làng nghề ở địa phương. Khi giao việc chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên cần hướng các em tới các đối tượng quan sát cụ thể như quan sát con vật và nêu các bộ phận của chúng, quan sát các nghề ở địa phương, quan sát bầu trời ở từng thời điểm khác nhau… Từ đó giúp học sinh có thêm những kiến thức thực tế cần thiết.
Tóm lại, để tăng cường hoạt động của học sinh, thực hiện tốt phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội cần phải có sự kết hợp các biện pháp nêu trên. Người giáo viên cần có sự gắn kết, sâu chuỗi nhịp nhàng giữa các hoạt động của thầy và trò. Định hướng cho học sinh con đường tự lĩnh hội, tự phát hiện ra kiến thức.
Tất cả các biện pháp nêu trên nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là sau khi học xong mỗi tiết Tự nhiên và Xã hội nói riêng và hoàn thành chương trình bậc tiểu học nói chung, học sinh tích lũy được vốn hiểu biết về Tự nhiên và Xã hội, về các cơ quan trong cơ thể con người và tác dụng của chúng, ý thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình và mọi người xung quanh, yêu thiên nhiên đất nước và bảo vệ môi trường sống.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

goi-ngay-gia-tot